Category: Business

Lãi của thương lái

By , May 5, 2017 12:23 pm

Trong chuỗi bán lẻ lợn:

  1. Thương lái ép giá nông dân, thu mua giá thấp.
  2. Thương lái bán giá cao ăn chênh lệch.

Trong chuỗi xuất khẩu gạo:

  1. Nông dân chịu rủi ro thời tiết mùa màng sâu bệnh.
  2. Thương lái ép giá nông dân, thu mua giá thấp.
  3. Thương lái bán giá không thấp cho công ty xay xát chế biến.
  4. Công ty xuất khẩu chịu áp lực giá thế giới.

Trong cả 2 chuỗi này:

Thắng: thương lái lẻ không lãi thì không làm => không bao giờ lỗ.

Thua: nông dân bị ép giá, người tiêu dùng phải chịu giá do siêu thị áp, công ty xuất khẩu chịu áp lực giá thế giới.

Giới hạn:

  • Không đầu tư khoa học kỹ thuật sơ chế.
  • Bao tiêu chưa làm được.
  • Không dám đầu tư vì lỗ là chết với SCIC.

J. Crew

By , May 5, 2017 12:18 pm

Thức ăn truyền thống ít dựa vào concept thì cạnh tranh cao, dựa vào địa điểm, bền, áp lực nghiên cứu phát triển (R&D) ít.
Thức ăn dựa vào concept mới ra thì hot lên sau đó nguội dần, hot được chừng 6 năm.

Thời trang đường phố mass cũng có thời.
Hãng áo chống nắng American Apparel đánh Abercrombie & Fitch.
Hãng giẻ lau giá cao J.Crew đánh American Apparel.

J. Crew đạt đỉnh 2013. 2016 suýt phá sản.

Blackstone nhảy vào cứu net. Nhưng Blackstone đương nhiên thông minh, không cứu bằng cổ phần mà chơi bài xử lý nợ, tái cấu trúc đống trái phiếu. J. Crew đang nợ 2.1B.
J. Crew có 2 năm để quay đầu trong khi Blackstone bóp cổ.

Lý thuyết tài chính doanh nghiệp cơ bản dạy cho học viên cao đẳng: Cổ đông là chủ công ty, chủ nợ không phải chủ công ty.
Các funds manager tát vào suy nghĩ này. Warren Buffett bảo: Chủ nợ có quyền và sẽ cho công ty phá sản, cổ đông không dám. Chủ nợ mới là chủ công ty.
Ở quê ta, GIẢ SỬ công ty phá sản thì chia tiền cho nhân viên rồi chủ nợ rồi các lớp cổ đông. Giả định thôi chứ trên đường đầy xác chết lượn qua lượn lại mà có chị nào phá sản đâu. Ở Mỹ, công ty phá sản thì chia tiền cho chủ nợ trước.

Quay lại J. Crew

  • Abercrombie & Fitch bị concept và marketing và logo rất douché. Nhưng còn vớt vát được 2 thứ: chất liệu vải tốt nhất trong các thương hiệu đồ trẻ con cùng phân khúc, và fit cũng tốt nhất. Abercrombie dẹp con hươu sừng tấm to đùng thì vẫn có cơ hội quay đầu.
  • J. Crew: Thiết kế cố vừa neo-preppy vừa fast fashion tắc kè, marketing dùng concept theo kiểu con nhà giàu không tới, chất liệu tệ hơn Gap, fit tệ hơn ZARA, giá trên trời so với chất lượng, bắt chước bọn thảm chùi chân Ralph Lauren làm hàng Factory.

Vĩnh biệt J. Crew.

When will Amazon enter Vietnam?

By , August 18, 2016 6:41 am

Amazon Web Services

  • AWS would be a good first product for lack of competition.
  • In the enterprise and cloud business, Microsoft already secured the position, especially e-government.
  • Selling to startup community is traditional and natural, but governmental sector is promising.

e-Commerce

  • e-Commerce itself might be challenging since the infrastructure is not there yet.
  • Providing logistical and warehousing services in the two megacities would be pretty straight-forward, scaling to rural areas would be challenging in terms of cost-benefit.
  • Competition: Chinese goods from Alibaba-Lazada, Thai-Japanese-Korean products from grey market, and even US import through grey market.

Where to Startup in Vietnam

By , April 10, 2016 10:03 pm
  1. EdTech: Technology for Education.
  2. HealthTech: Technology for Healthcare.
  3. Logistics for Food Delivery.
  4. Concept Food Chain.
  5. Agritech: Technology for Agriculture.
  6. FinTech: Technology for Financial Management.

The Netflix World

By , January 9, 2016 4:15 am

Netflix (NASDAQ:NFLX)’s growth drivers after its announcement to roll out to 130 countries:

  1. Copyright negotiation to broadcast shows outside the US.
  2. Battle against piracy infringement.

Khi Netflix thông báo tăng số quốc gia phát sóng ngày 6 Jan 2016 thì cổ phiếu lên ngay lập tức.

Nhưng cũng như mọi khi, NFLX là một con rất speculative trong 2 ngành Tech và Media nên trồi sụt rất nhanh.

  1. Một động cơ lớn giúp Netflix tăng trưởng là việc Netflix thương lượng với các bên nắm giữ bản quyền phát sóng bên ngoài nước Mỹ.
  2. Động cơ thứ hai cũng là pháp lý: Netflix có huy động vốn để chiến vấn đề bản quyền ở các xứ toàn dùng hàng lậu không, có thì bao giờ.

Đầu cơ không cần scalping thì canh growth driver mà chiến. Đầu cơ có scalping thì canh momentum.

Câu hỏi cụ thể liên quan đến thị trường Việt Nam (thị trường rất bé của Netflix)

* 180Kđ/tháng là đắt hay rẻ?

Đắt. HDViet lậu trắng trợn 50K được 1 đến 3 tháng. Dân ta có thèm quan tâm bản quyền đâu.
Đắt. Khi mà nhiều show các bạn thích chưa có trên Netflix vì vấn đề bản quyền ngoài nước Mỹ chưa thương lượng xong. Các show đó thì có trên mấy trang lậu.

* Đã ai mua tài khoản Netflix chưa?

Nhiều. Có 2 nhóm chính (1) du học về (2) đương nhiên là early adopters.

* Có cần Vietsub không?

Câu hỏi không cần quan tâm vì chi phí để làm Vietsub rất bèo.

* Có nên mua tài khoản Netflix Việt không?

Chưa. Dùng thủ thuật mua tài khoản Mỹ cho vui.

* Netflix có đánh bại HDViet và các trang lậu xuất phát từ Việt Nam không?

Netflix chưa đánh thì có khi Galaxy và các bạn truyền hình, phát hành film, media đã lo chiến đủ bề rồi.

Original image http://i.imgur.com/UZ5vozk.png

Trường Kinh Doanh không dạy

By , December 16, 2015 11:51 am

Hướng nghiệp cho học sinh sắp vào Cao Đẳng Đại Học

Những gì chúng (*) đổ thừa Trường Kinh Doanh không dạy

Dẫn nhập

Tài Chính Doanh Nghiệp (Corporate Finance) là ngành hấp dẫn tuỳ thời điểm. Ở ĐH Kinh Tế TPHCM, có những năm TCDN là ngành điểm cao nhất sau khi học xong Đại Cương. Ngoại Thương Cơ Sở 2 có 4 ngành, trong đó ngành Tài Chính không phải cao điểm nhất; mà đầu vào Ngoại Thương giỏi nhất khối D cả nước thì cần gì học. Quyển Corporate Finance Cơ Bản phổ biến nhất thế giới là Ross Westerfield Jaffe. Trường top ở Mỹ lẫn trường làng gần Bình Chánh cũng dùng quyển này cho SV Kinh Doanh.

Pháp lệnh (bible)

Ross Westerfield dạy rằng:

Định hướng cơ bản nhất của công ty là làm ra lợi nhuận.

Lợi nhuận sau thuế được sử dụng như sau:

  1. Giữ lại làm Lợi Nhuận Chưa Phân Phối (Retained Earning) để đầu tư cho các dự án năm sau.
  2. Trả cổ tức cho Preferred Shares.
  3. Trả cổ tức cho Common Shares.

Nhưng mà có 4 kiểu công ty hay-khoe-là công nghệ không thèm kiếm lãi:

1. Amazon

Amazon đã và vẫn đang cố ý sống trên bờ hoàn vốn. Có năm lỗ nhẹ tí. Chả sao vì 2 điểm chính (1) bản chất mô hình bán lẻ có lãi 3% là mừng (2) quan trọng hơn là đang đầu tư quá khủng cho SaaS, robotics, data analytics, và các dự án chưa công bố.

Jeff Bezos không ngại cãi nhà đầu tư. NĐT cũng biết không đủ giỏi và hiểu bằng Jeff Bezos nên cứ thả cho làm.

2. Groupon

Bản chất của mô hình Groupon là dòng tiền luôn dương. Dưới áp lực tăng doanh thu (để dùng doanh thu làm định giá), Groupon phải làm 2 thứ (1) marketing liên tục (2) international acquisition.
Đấy là thời hoàng kim lúc IPO.

Bây giờ nói đến Groupon thì sượng sùng với nhau nhưng mà mô hình Groupon đã:

  • Thay đổi toàn bộ thương mại điện tử khu vực ĐNÁ.
  • Kích thích hạ tầng logistics.
  • Chứng minh khả năng tồn tại không phụ thuộc hệ thống ngân hàng ở VN.
  • Hệ quả dẫn đến cả 500-mắm-tôm năm 2015.

3. Rocket Internet

Rocket Internet thì build to sell, mục đích chính là bán lại công ty cho đối thủ to hơn.
EBITDA là một thứ Investment Banker (không cần Quant) đẻ ra để bỏ vào ratios cho đỡ quê nhưng Rocket Internet đạp vỡ mọi giới hạn ngay cả EBITDA luôn.

4. Uber & GrabTaxi

Uber và GrabTaxi dùng tiền vốn huy động qua equity trợ giá để giảm giá thành sản phẩm. Lỗ kệ. Có thể phân tích vui về vụ không tốn chi phí tổng đài nhưng cái đó nhỏ so với việc giành thị phần.
Khả năng cao mục tiêu của Uber là IPO. (Không thì làm sao vest đống stock options).
GrabTaxi thì obscure hơn, hoặc IPO hoặc trade sale.

Điểm chung của 4 mô hình trên là THỊ PHẦN.

Mấy thứ trên có dạy trong trường Kinh Doanh không?

Câu trả lời: CÓ. Tui mang ra mổ xẻ trong lớp MBA ở RMIT.

  • Trường hàn lâm thì download dữ liệu mấy chục ngàn công ty để chạy econometrics.
  • Trường thực dụng mà không quá tệ thì làm case.
  • SV top school thì đã phải tự biết chứ không đợi được dạy; nếu không biết thì bunny detected. Bunny: thấy gái đẹp rất thích đi chơi và chụp hình với gái xấu không, bunny là gái xấu; đối với cohort tỏ ra sống-bằng-não thì khái niệm bunny cũng vậy.

Ủa vậy rốt cuộc sống trên đời có cần lãi không?

Kinh doanh ngôn tình

By , December 16, 2015 9:09 am

Lúc xem film bạn có để ý một số thương hiệu xuất hiện và diễn viên cũng có lời thoại cố ý đề cập đến sản phẩm không? Đó gọi là product placement – mượn chỗ để quảng cáo.

Theo Nicole Luu ước tính thì số tiền Huỳnh Hiểu Minh thu được sau đám cưới là 140 triệu, chưa tính tiền quảng cáo media. Số 140m này gấp 4.3 lần số bỏ ra.

Trong đám cưới, Huỳnh Hiểu Minh và Angelababy đã quảng cáo (product placement) ít nhất cho:

  1. Tissot
  2. Samsonite
  3. Coach
  4. Meitu phone
  5. Chaumet Josephine
  6. Dior
  7. Elie Saab
  8. Dove
  9. Hàng hoa The Beast (hãng cũng tranh thủ bán replica cho quan khách ngay tại buổi hôn lễ)
  10. Aicai (Chú rể là một cổ đông)

Trung Hoa đại lục là thị trường hàng luxury nóng nhất thế giới. Tuy nhiên trong năm 2014-2015 hàng luxury có phần giảm nhiệt do các chiến dịch đập tham nhũng của chính phủ TQ. Vì vậy, các hãng đương nhiên muốn quảng cáo để kéo khách lại thị trường hàng luxury Thượng Hải – Bắc Kinh.

Ngoài ra, vì Chú Rể và Cô Dâu đều có quỹ đầu tư mạo hiểm riêng nên các công ty nhận đầu tư có doanh thu đột biến khi phục vụ và được nhắc đến trong thời gian đám cưới diễn ra. Doanh thu tăng 1 tệ thì giá trị đầu tư tăng ít nhất phải 3 tệ.

Nhận diện thương hiệu của cặp vợ chồng và các công ty con của họ tăng khủng khiếp càng làm tăng tiền cát-xê và giá trị các công ty.

Kinh doanh ngôn tình quá giỏi.

Words

By , December 16, 2015 9:01 am

We are living in a world where:

  1. Apple has no apple in its inventory.
  2. Amazon is not based in South America.
  3. Alibaba has no competitor in Iraq.

Something interesting is going on.

Failure revisited

By , December 16, 2015 8:50 am

If you have to fail, fail after you’ve done everything and customers still won’t buy, don’t fail because you yourself screw up even before others start hating you.

7 yếu tố giúp startup trường tồn

By , December 16, 2015 8:49 am

Doanh nhân nào chọn khởi nghiệp với công nghệ (startup) cũng mong muốn thành công như những thần tượng của mình, nhưng để công ty sống sót và tồn tại đã là một thử thách không hề dễ dàng.

Tôi biết những người sáng lập Payoo, ví điện tử được TPHCM và Hà Nội chọn làm công cụ thanh toán tiền điện trực tuyến, từ năm 2006. Sau gần 10 năm theo dõi quá trình phát triển của công ty khởi nghiệp công nghệ (startup) này ở nhiều vai trò như người trực tiếp, người giới thiệu cho bạn bè dùng các sản phẩm thanh toán trực tuyến, nhà quản lý quỹ đầu tư hay giảng viên tìm tư liệu đưa vào bài giảng, Payoo luôn làm cá nhân tôi hứng thú về cách mà họ tồn tại trong thị trường thanh toán trực tuyến đầy khắc nghiệt tại Việt Nam.

Payoo tham gia vào thị trường thanh toán trực tuyến khi mà các đối thủ đang nắm trong tay những lợi thế vô cùng lớn. Ví dụ, Smartlink có kết nối tốt với hệ thống chuyển mạch ngân hàng; OnePay có lợi thế kết hợp được với các đối tác mà khách hàng của họ đã quen với việc thanh toán trực tuyến; NganLuong đã có sẵn đối tượng khách hàng thương mại điện tử của PeaceSoft; còn SohaPay thì mặc nhiên được phục vụ cho khách hàng của VCCorp. Đấy là chưa kể đến việc 3 công ty viễn thông lớn của Việt Nam có thể nhảy vào thị trường thanh toán qua điện thoại di động bất cứ lúc nào, nếu họ muốn.

Trong bối cảnh như vậy, chuyện Payoo không chỉ bền bỉ tồn tại và phát triển, mà còn nhận được đợt đầu tư lớn từ tập đoàn NTT Data (Nhật) rõ ràng là đáng ghi nhận. Những bài học dưới đây sẽ không dừng lại ở trường hợp đơn lẻ là Payoo, mà đã được rút ra từ nhiều startup nổi bật khác.

1. Thích ứng với từng thị trường

Ở các nước phát triển, khi nói đến thanh toán trực tuyến thì người ta nghĩ ngay đến giải quyết vấn đề khi mua hàng qua mạng. Tuy nhiên, khi mà đại đa số người Việt vẫn chưa quen việc thanh toán trực tuyến trả tiền trước khi mua hàng qua mạng, hoặc thậm chí là không có nhu cầu mua sản phẩm qua mạng thì startup trong lĩnh vực này phải làm thế nào? Payoo đã khởi đầu và vẫn đang tiếp tục cung cấp giải pháp cho một nhu cầu có sẵn của người dùng là nạp tiền cho điện thoại di động (Topup). Cách làm này là sự thích ứng với thị trường, giúp tạo ra doanh thu để duy trì công ty và từ đó phát triển tiếp các dịch vụ khác.

Tương tự là câu chuyện của startup bán hàng qua mạng. Khi người mua chưa quen với việc thanh toán trực tuyến trả trước, các công ty làm thương mại điện tử đã chấp nhận dùng cách trả tiền mặt khi nhận hàng (cash–on–delivery) để giải quyết vấn đề này. Mặt khác, nhiều đơn vị còn tận dụng mạng lưới xe ôm có sẵn để giao hàng.

Một cách ngắn gọn, mô hình kinh doanh có thể học hỏi từ các tượng đài thành công trên thế giới, nhưng cách làm chi tiết thì khởi nghiệp cần thích ứng với nhu cầu và thị hiếu thị trường.

2. Sẵn sàng làm mọi thứ

Gia tăng quy mô nhanh chóng là một điểm đặc biệt của các startup. Mô hình nào cũng có các chi phí cố đinh và các chi phí biến đổi. Chi phí cố định đầu tư một lần và sau đó không tăng nữa, còn chi phí biến đổi thường thì theo doanh thu. Ở mức đơn giản nhất, startup thường đầu tư một lần vào các chi phí cố định như nhân sự, cơ sở hạ tầng hay nghiên cứu phát triển. Sau đó, chi phí phục vụ 1000 khách hàng cũng xấp xỉ chi phí phục vụ cho 1 khách hàng, vì mọi thao tác đã được tự động hóa cho hệ thống máy tính xử lý. Chi phí biến đổi tăng rất ít so với độ tăng doanh thu; và tăng trưởng lợi nhuận chủ yếu từ đó mà ra.
Hấp dẫn hơn, chi phí đầu tư hạ tầng đang ngày càng giảm nhờ những tiến bộ trong công nghệ phần cứng, máy chủ và công nghệ điện toán đám mây. Ngày nay startup, có nhiều lựa chọn máy chủ hơn, ví dụ có thể chọn thuê Amazon Web Services và đẩy áp lực số người dùng vào hệ thống cho Amazon xử lý. Ngoài ra startup ít gặp phải các rào cản địa lý và vật lý. Công ty ở TPHCM có thể phục vụ khách hàng cả nước hoặc xuyên quốc gia. Chi phí quảng bá trên internet thấp hơn và thông tin có thể tự lan truyền.

Với những lợi thế đó, có thể dễ dàng nghĩ rằng startup chỉ cần đầu tư làm sản phẩm thật tốt rồi người dùng sẽ tự tìm đến và giới thiệu cho nhau. Thực tế không màu hồng như vậy. Có nhiều sản phẩm đã ra đời rồi ra đi lặng lẽ. Ở Việt Nam nhiều sản phẩm ăn theo Twitter, Digg hay Weibo từng ra đời với chất lượng tốt, nhưng vẫn chưa thể có đủ doanh thu để phát triển. Làm sản phẩm tốt chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ để startup tồn tại. Cần sẵn sàng làm những thứ không tự tăng quy mô nhanh chóng.

3. Chăm sóc những khách hàng đầu tiên

Tôi còn nhớ khi mới khởi nghiệp, anh Trần Ngọc Thái Sơn – Người sáng lập startup thương mại điện tử Tiki.vn – đã nói chuyện trực tiếp với rất nhiều khách hàng, lắng nghe nhu cầu của họ và đưa những thay đổi cần thiết vào sản phẩm và cả định hướng công ty. Những người sáng lập trang thương mại điện tử Sendo.vn của FPT cũng vậy, họ sẵn sàng ngồi nhiều ngày với tôi để phỏng vấn rất chi tiết trải nghiệm mua hàng trên mạng rồi ứng dụng vào sản phẩm. Nhiều bạn là tổng giám đốc các công ty ứng dụng di động cũng dành thời gian hỗ trợ hết mình khi tôi dùng thử sản phẩm của họ. Những việc này rất tốn chi phí, nhưng lại quyết định giữa chuyện có khách hàng hay không.

Nhóm khách hàng đầu tiên rất quan trọng, vì bản thân họ cũng chịu rủi ro nhất định hoặc ít nhất là mất thời gian để trải nghiệm sản phẩm, dịch vụ của startup. Đích thân các nhà sáng lập nên tiếp xúc với khách hàng và thuyết phục họ dùng sản phẩm. Ngoài việc làm cho khách hàng “sướng” vì được người cao nhất của công ty phục vụ, nhà sáng lập còn trực tiếp thấy cách khách hàng sử dụng sản phẩm và nghe được những phản hồi để điều chỉnh quy trình, hướng đi, cách làm cho phù hợp.

Tuy nhiên, như đã nói, việc đích thân đi phục vụ khách hàng khá tốn kém (nhất là thời gian) nên các startup nên tập trung vào những đối tượng trong phân khúc mình muốn phục vụ bằng cách vẽ chân dung khách hàng phù hợp trước; và nên tập trung vào những khách hàng có độ ảnh hưởng lớn lên cộng đồng. Ngoài ra, khi chưa đủ quy mô để cạnh tranh về giá, hãy cạnh tranh bằng chất lượng dịch vụ khác biệt. Khi chưa có ngân sách dồi dào để đẩy mạnh quảng cáo ngay từ đầu như Lazada hay Chotot, hãy cạnh tranh bằng trải nghiệm thật tốt.

4. Chăm sóc cả những đối tác đầu tiên

Có được vài khách hàng đầu tiên là một mặt của câu chuyện. Mặt khác, có mạng lưới đối tác lớn là một yếu tố cực kỳ quan trọng. Mạng lưới đối tác sẽ mang đến nguồn cung sản phẩm đa dạng, hoặc dịch vụ cộng thêm cho khách hàng. Thực tế, các startup sẽ khó khăn khi tiếp cận đối tác vì đối tác thường đã là công ty lớn. Chính vì vậy, người cao nhất công ty cũng nên đi phát triển mạng lưới đối tác đầu tiên. Payoo đã tìm đến hệ thống đối tác thanh toán hóa đơn điện nước, chuyển học phí cho các trường Đại học và một số đơn vị thương mại điện tử. Việc này khó tăng quy mô một cách tự động, nhưng là điều mà startup bắt buộc phải làm để tạo ra giá trị cho người dùng cuối.

5. Chấp nhận cách làm thủ công

Trong quá trình xây dựng sản phẩm, có khá nhiều công đoạn buộc phải xử lý bằng tay. Lý do không phải vì không thể dùng những thuật toán để tìm dữ liệu có sẵn, mà vì làm dữ liệu ban đầu bằng tay mới tạo trải nghiệm cá nhân hóa cho người dùng. Ví dụ, sản phẩm mạng lưới du lịch mới có thể chọn cách lấy dữ liệu có sẵn từ đâu đó, nhưng viết lại từ đầu sẽ hướng chính xác vào tâm lý và quãng đường khách du lịch đã hoặc sẽ đi qua. Những ngày đầu, Facebook phải nhập tay thông tin trường học và mạng lưới các công ty lớn. Công đoạn này rất mệt mỏi, nhàm chán, nhưng ở giai đoạn đầu là cần thiết.

6. Đừng chờ sản phẩm hoàn hảo

Chờ đến khi sản phẩm hoàn hảo mới tung ra thị trường là một cái bẫy tâm lý dễ gặp phải. Đương nhiên, không ai muốn đứa con mình thai nghén trình làng khi còn khiếm khuyết. Tuy nhiên, có 3 lý do không nên chờ đến khi sản phẩm hoàn hảo. Đầu tiên, không biết bao giờ là hoàn hảo, vì khi đạt đến độ “hoàn hảo” thì có thể người kỹ sư lại nghĩ ra thêm những thứ mới để chỉnh sửa hoặc thêm thắt. Kế đến, nếu chờ đến khi sản phẩm hoàn hảo, có thể đối thủ nội địa hoặc nước ngoài đã ra sản phẩm trước và chiếm mất lợi thế người dẫn đầu. Cuối cùng, có thể khách hàng không cần dùng hết mọi tính năng mình muốn cung cấp.

Vì vậy, khi cảm thấy hài lòng với sản phẩm ở mức nhất định, hãy tung ra ngay. Quan sát phản ứng của thị trường, cầu thị tiếp nhận phản hồi và điều chỉnh sản phẩm thật nhanh theo ý kiến khách hàng. Đôi khi, làm cách này thì sản phẩm sẽ đi theo một hướng rất khác so với người sáng lập tưởng tượng ban đầu. Nhưng sự thay đổi và thích nghi sẽ tạo ra một sản phẩm thực tế và “gãi đúng chỗ ngứa” của khách hàng hơn.

7. Không bao giờ đợi nhà đầu tư

Quan trọng nhất đối với startup là chuyển động không ngừng. Những người khởi nghiệp lần đầu có thể nghĩ rằng cần có nhà đầu tư vì họ mang đến vốn, kinh nghiệm và quan hệ để đẩy công ty phát trển nhanh. Điều này hoàn toàn đúng, nhưng thực tế thường diễn ra rất khác. Quy trình thẩm định đầu tư có thể kéo dài hơn dự định đến cả năm; có thể những kế hoạch kêu gọi đầu tư đi theo hướng không mong muốn. Startup nên tập trung vào những điểm mấu chốt: làm sản phẩm, tiếp cận khách hàng và mang doanh thu về. Khi chưa có đầu tư thì buộc phải chạy marketing tiết kiệm, nâng cao năng suất của đội ngũ hiện có để đưa công ty vào thế buộc phải tự đứng trên đôi chân của mình. Sự cứng cáp của người khởi nghiệp được trui rèn từ đó.

Khởi nghiệp là một quá trình gian nan dai dẳng, có tỉ lệ rủi ro rất cao. Để tồn tại, khởi nghiệp buộc phải chọn chiến lược thông minh. Doanh nhân nên tin vào trực giác của mình và cả những bằng chứng phản trực giác để đưa ra lựa chọn sáng suốt nhất cho startup.

Bài đã đăng trên Nhịp Cầu Đầu Tư.

Panorama Theme by Themocracy