National University of Singapore

By , December 16, 2015 10:24 am

Cuối thập niên 1990s, ĐH Quốc Gia Tân Gia Ba (NUS), Nam Dương Kỹ Nghệ Đại Học Viện (NTU), và ĐH Quản Trị Tân Gia Ba (SMU) là 3 trường đặc biệt ở chỗ: sự trồi sụt thứ hạng của 3 trường này với các trường khác không còn ý nghĩa (irrelevant) trong việc lựa chọn trường du học của trẻ em Việt.

Bác Lý đã làm điều đó như thế nào? Cho vay học phí (student loan) và học bổng ASEAN. CHỈ CẦN vào một trong 3 trường công này thì mặc nhiên được vay toàn bộ học phí và ăn ở để học với lãi suất không cao, sau khi học xong sẽ được tạo điều kiện việc làm để trả nợ (bond). Nhiều bạn thế hệ mình trả xong bond chỉ sau 3 năm.

Làm sao để vào? Tầm khá khá ở trường chuyên tỉnh là vào.

Về mặt những đứa trẻ ngơ 15 tuổi thì nếu gia đình không muốn bỏ tiền cho con đi học thì mặc định cứ làm hồ sơ vào 3 trường này rồi kiếm tiếp học bổng khác (Weslyan, AusAID). Vì thế, thứ hạng của 3 trường này so với các trường khác trở nên vô nghĩa.
(Lớp chuyên LHP có học bổng và được thưởng khi thi học sinh giỏi nên những đứa không bao giờ trả tiền đi học từ 15 tuổi là theo đường này).

Như thế có thể nói chương trình student loan đã bắt được những đứa *học* giỏi nhất trong số những gia đình không thể / không muốn bỏ tiền cho con du học của những nước nghèo. Chương trình rất efficient (không biết effective cỡ nào).

Tuy nhiên chính sách thu hút nhân tài gặp sự cố nghiêm trọng sau khủng hoảng tài chính toàn cầu. Thế hệ sinh năm 1988 tự dưng gặp rất nhiều khó khăn lúc xin việc khi mà hầu hết các công ty ở Singapore đòi Thường Trú (PR), và PR khó khăn hẳn đi. Trong lúc đó, nợ vẫn treo trên đầu nếu không có học bổng.

Có nhiều cuộc đời hoàn toàn thay đổi không còn như kế hoạch.

Giống như học xong Cử Nhân lúc 2006 thì làm gì cũng dễ, còn xong lúc 2009 thì gì cũng khó.

We’re living a Chronocracy. Tạm dịch: chúng ta đang dung dưỡng một xã hội mà thời gian giết ngoé tất cả.

Thư viện NUS là nơi có thể vào ngồi ngủ khi đi du lịch mà không muốn book Marina Bay Sands. Tin tôi đi, thử rồi =))

Hồi còn là học sinh mình có hỏi thầy “Thầy ơi, nếu em không học NUS rồi em đi làm làm sao em cạnh tranh lại mấy đứa NUS?”.
Khi đi làm mới thấy chả cần phải cạnh tranh vì thị trường đủ lớn để hợp tác. Phew, cảm thấy đỡ hơn hẳn.

Nhân trường hợp NUS đứng nhất châu Á trên ít nhất 2 bảng xếp hạng.
Yếu tố đầu cơ khi chọn trường còn bao gồm dự đoán thứ hạng của trường đó nữa. Ví dụ học xong nó tăng 30 hạng thì có cớ để sống ảo, khoe trên Facebook.

Nhân chuyện TPP và trứng kể chuyện hồi mới đi làm

By , December 16, 2015 9:15 am

Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời đầu thiên niên kỷ. Lúc đó các CTCK phải cử đại diện sàn lên ngồi ở Sở Giao Dịch Chứng Khoán.

Đến nửa sau thập niên 2000 thì bắt đầu triển khai hệ thống tự động hoá. Bé Tài ngơ mới ra trường lon ton quản việc phân tích, thiết kế, code, tư vấn, triển khai hệ thống ở Sở và các CTCK. Còn nhớ ngày tất cả các CTO ở các CTCK tụ họp lại làm bài thi ở Sở để được đậu để kết nối.

Làm cái đó cũng có biết tí về hệ thống nội bộ phía sau các con lệnh và biết đặt lệnh, đua lệnh diễn ra thế nào. Biết luôn performance của hệ thống các CTCK.

Lúc công tác ở Trường Tài Chính Ngân Hàng Đại Học Bang New South Wales thì moi não đoạn đó ra làm một bài nghiên cứu academic về market microstructure. Tuy nhiên vì không theo nghiệp nghiên cứu sư nên bài đó chưa bao giờ thành hình một journal article.

Cũng ở UNSW có vọc hệ thống trading dùng cho USyd, Monash. Vọc vọc ngồi tối ưu hoá được bốn giải thuật (algorithm) để khớp lệnh. Bốn giải thuật đó dùng được cho tất cả các thị trường trên thế giới.

Đang làm investment banker kiêm giáo nghèo bên đó thì quỹ ở Việt Nam gọi về, thì về. Ngoài Private Equity portfolio và startup portfolio thì còn có tí tẹo Public portfolio. Lúc đó đối tác ngân hàng không có investment license nên uỷ thác đầu tư sang cho <giấu số chỗ này>. Trời đất, năm đó ở thị trường VN chỉ cần canh lúc không có đội nào lái, đút 2 tỷ đồng vào Bảo Việt BVH là cả thị trường nhảy nhổng (lúc đó PVN chưa lên sàn còn MSN chỉ có 6% float thì chả làm ăn gì, mí lị MSN thì làm kiểu khác chứ không phải là con để thảo dân speculate). Thế mà quăng cả <giấu số hí hí> vào thị trường thì có mà tự mình treo cổ. Thế là không dám đưa cho em Senior Account Manager bên CTCK mà tự mình ngồi đặt lệnh cho ngân hàng.

Ngặt ở chỗ cũng trong những ngày đó mình cũng muốn trade cho danh mục cá nhân. Thế là làm đúng theo ĐẠO ĐỨC người chiến sĩ CFA ngộ chữ:

1. Danh mục cá nhân không dính dáng gì đến danh mục của đối tác.

2. Nếu có tí liên quan thì danh mục đối tác phải đi trước xong hết rồi mới tới danh mục cá nhân.

Quăng hết danh mục cá nhân cho em môi giới ở CTCK rồi tự mình ngồi đặt lệnh cho đối tác. Ngồi canh rất kỹ, đoạn giao dịch thoả thuận (put-through), đoạn đặt lệnh trước giờ, đoạn nào canh MO, đoạn nào giảm thiểu chi phí cơ hội.

Sau khi làm xong danh mục cho đối tác thì hết ngày, nhòm sang danh mục cá nhân của mình. Rồi, banh chành. Ông nội môi giới quăng thẳng một cục BUY MO NGAY ĐỈNH intraday. Mặc dù nó vẫn lên nhưng vẫn tét.

Than với bạn thì bạn trader chửi “Mày có 2 cái ngu. First, you dissociated your accounts. Brokerage in this country is not a concierge service even if they vow to, especially if they vow to. Second, the market is morally blind.”

Còn thằng bạn người Anh làm PhD mỉa “Mày càng mất dạy thì càng ít phải lấy CFA”. Đề tài nghiên cứu của nó là những lời dối gian trong corporate governance nên nó có thẩm quyền (authority) dùng chữ “mất dạy”.

Tóm lại:

1. Thị trường cần lắm môi giới có tâm, rủ lòng thương hại khách hàng quỹ (là tui).

2. Nghèo thì làm giáo tài chính nghèo còn dùng chữ hòng làm thiên hạ nản bỏ đi chứ trader nghèo thì ngoài ăn hiếp mấy thằng hiền như <phó tổng Goldman Sachs bạn tui> thì chả có gì để em chã cả.

Chúc các chã ăn đậm mùa TPP này.

Kinh doanh ngôn tình

By , December 16, 2015 9:09 am

Lúc xem film bạn có để ý một số thương hiệu xuất hiện và diễn viên cũng có lời thoại cố ý đề cập đến sản phẩm không? Đó gọi là product placement – mượn chỗ để quảng cáo.

Theo Nicole Luu ước tính thì số tiền Huỳnh Hiểu Minh thu được sau đám cưới là 140 triệu, chưa tính tiền quảng cáo media. Số 140m này gấp 4.3 lần số bỏ ra.

Trong đám cưới, Huỳnh Hiểu Minh và Angelababy đã quảng cáo (product placement) ít nhất cho:

  1. Tissot
  2. Samsonite
  3. Coach
  4. Meitu phone
  5. Chaumet Josephine
  6. Dior
  7. Elie Saab
  8. Dove
  9. Hàng hoa The Beast (hãng cũng tranh thủ bán replica cho quan khách ngay tại buổi hôn lễ)
  10. Aicai (Chú rể là một cổ đông)

Trung Hoa đại lục là thị trường hàng luxury nóng nhất thế giới. Tuy nhiên trong năm 2014-2015 hàng luxury có phần giảm nhiệt do các chiến dịch đập tham nhũng của chính phủ TQ. Vì vậy, các hãng đương nhiên muốn quảng cáo để kéo khách lại thị trường hàng luxury Thượng Hải – Bắc Kinh.

Ngoài ra, vì Chú Rể và Cô Dâu đều có quỹ đầu tư mạo hiểm riêng nên các công ty nhận đầu tư có doanh thu đột biến khi phục vụ và được nhắc đến trong thời gian đám cưới diễn ra. Doanh thu tăng 1 tệ thì giá trị đầu tư tăng ít nhất phải 3 tệ.

Nhận diện thương hiệu của cặp vợ chồng và các công ty con của họ tăng khủng khiếp càng làm tăng tiền cát-xê và giá trị các công ty.

Kinh doanh ngôn tình quá giỏi.

Words

By , December 16, 2015 9:01 am

We are living in a world where:

  1. Apple has no apple in its inventory.
  2. Amazon is not based in South America.
  3. Alibaba has no competitor in Iraq.

Something interesting is going on.

Give me a break, tax break

By , December 16, 2015 8:56 am

Trong nền kinh tế mà ai cũng phải ráng chém gió để bán hàng thì chuyện nổ & tung tiền PR bản thân là bình thường rồi.
Mà có hai thứ không đáng / không nên nổ & giành, một là thuế.

  • * Nổ không có tác dụng gì với văn phòng thuế.
  • Thuế truy thu được.
  • Thuế luôn là cái cớ đập nhau dễ nhất. Có người chống lưng cũng bị đập hoặc càng bị đập.
  • Tự xử lý thuế trước khi làm deal thì ít bị quê, chứ vì sĩ diện mà để thuế tè le đến mất deal thì uổng.
  • Cái gì cũng “quẳng cho kế toán” mà không (có khả năng) biết kế toán làm cái gì thì có ngày kế toán bắt cầm đồ để đóng thuế.
  • Không phải lúc nào cũng cần tax advisory nhưng không biết thì kéo một trong Big-4 vào cho rồi. Anh chủ tịch hỏi thì đưa chữ ký Big-4 ra.
  • “Không ai đánh thuế ước mơ” là chuyện con nít mẫu giáo vênh mặt với nhau. Ước mơ có thuế, mấy năm sau mới lòi ra, có khi chục năm. Nói vậy chứ nhiều chú gần 30 vẫn tụng câu đó hihi.
  • Mà trình cao thì lobby for tax break rồi.

Tóm lại: Nổ thì cứ nổ nhưng mà đụng đến thuế khi trình không đủ cao thì xì tiền ra thuê Big-4 vào.

On Par

By , December 16, 2015 8:52 am

Chương trình tái hoà nhập xã hội dành cho RMIT và du học sinh

Phần 2: Thuật ngữ cơ bản trái phiếu doanh nghiệp

(Phần 1 là stock par value, thứ chỉ có ở Việt Nam do tình trạng pháp lý hồi 1990s)

Giáo trình lý thuyết Tài chính Doanh nghiệp cơ bản phổ biến nhất thế giới và CFA dạy vầy:

  • Lãi suất tham chiếu (reference rate) => lãi suất thị trường (market rate).
  • Market rate cộng premium hoặc trừ discount ra Yield To Maturity YTM.
  • Dùng YTM quẳng vào mô hình cơ bản [annuity + chiết khấu par] ra giá Trái Phiếu.
  • Trong đó Coupon Rate có thể khác YTM.

Trường không quá thấp hoặc thầy muốn dạy thực tế thì dạy thêm vầy:

  • Lang thang ngoài đường gặp Trái Phiếu có giá, coupon, kỳ hạn (term to maturity).
  • Tự tính ngược lại YTM trên giấy.
  • Từ đó thực hiện các kỹ thuật interest immunization.

Muốn học financial engineering mà không biết tính nhẩm YTM thì chửi cho. Hoàn cảnh xuất xứ: YTM là số rất lẻ và không thể tách riêng ra để lấy nghiệm dựa trên các phương pháp đại số dạy trong Toán Cao Cấp.

Ở quê ta:

  • Giá = Par.
  • Suy ra Coupon Rate = YTM, khỏi phải phân biệt.
  • Cho nên các bạn gọi luôn Coupon là LÃI SUẤT.

Tiến sĩ Lê Hồng Giang đề xuất dùng chữ Trái Tức cho Coupon.

Đồ rằng khi mà Giá luôn bằng Par thì có đứa lại chửi “Coupon thì khác gì lãi suất?”

Mong cộng đồng cho phép du học sinh tài chính tái hoà nhập xã hội để trở thành công dân có ích cho đất nước, không chúng cứ chạy rông khoe là biết làm Fixed Income Derivatives.

Failure revisited

By , December 16, 2015 8:50 am

If you have to fail, fail after you’ve done everything and customers still won’t buy, don’t fail because you yourself screw up even before others start hating you.

7 yếu tố giúp startup trường tồn

By , December 16, 2015 8:49 am

Doanh nhân nào chọn khởi nghiệp với công nghệ (startup) cũng mong muốn thành công như những thần tượng của mình, nhưng để công ty sống sót và tồn tại đã là một thử thách không hề dễ dàng.

Tôi biết những người sáng lập Payoo, ví điện tử được TPHCM và Hà Nội chọn làm công cụ thanh toán tiền điện trực tuyến, từ năm 2006. Sau gần 10 năm theo dõi quá trình phát triển của công ty khởi nghiệp công nghệ (startup) này ở nhiều vai trò như người trực tiếp, người giới thiệu cho bạn bè dùng các sản phẩm thanh toán trực tuyến, nhà quản lý quỹ đầu tư hay giảng viên tìm tư liệu đưa vào bài giảng, Payoo luôn làm cá nhân tôi hứng thú về cách mà họ tồn tại trong thị trường thanh toán trực tuyến đầy khắc nghiệt tại Việt Nam.

Payoo tham gia vào thị trường thanh toán trực tuyến khi mà các đối thủ đang nắm trong tay những lợi thế vô cùng lớn. Ví dụ, Smartlink có kết nối tốt với hệ thống chuyển mạch ngân hàng; OnePay có lợi thế kết hợp được với các đối tác mà khách hàng của họ đã quen với việc thanh toán trực tuyến; NganLuong đã có sẵn đối tượng khách hàng thương mại điện tử của PeaceSoft; còn SohaPay thì mặc nhiên được phục vụ cho khách hàng của VCCorp. Đấy là chưa kể đến việc 3 công ty viễn thông lớn của Việt Nam có thể nhảy vào thị trường thanh toán qua điện thoại di động bất cứ lúc nào, nếu họ muốn.

Trong bối cảnh như vậy, chuyện Payoo không chỉ bền bỉ tồn tại và phát triển, mà còn nhận được đợt đầu tư lớn từ tập đoàn NTT Data (Nhật) rõ ràng là đáng ghi nhận. Những bài học dưới đây sẽ không dừng lại ở trường hợp đơn lẻ là Payoo, mà đã được rút ra từ nhiều startup nổi bật khác.

1. Thích ứng với từng thị trường

Ở các nước phát triển, khi nói đến thanh toán trực tuyến thì người ta nghĩ ngay đến giải quyết vấn đề khi mua hàng qua mạng. Tuy nhiên, khi mà đại đa số người Việt vẫn chưa quen việc thanh toán trực tuyến trả tiền trước khi mua hàng qua mạng, hoặc thậm chí là không có nhu cầu mua sản phẩm qua mạng thì startup trong lĩnh vực này phải làm thế nào? Payoo đã khởi đầu và vẫn đang tiếp tục cung cấp giải pháp cho một nhu cầu có sẵn của người dùng là nạp tiền cho điện thoại di động (Topup). Cách làm này là sự thích ứng với thị trường, giúp tạo ra doanh thu để duy trì công ty và từ đó phát triển tiếp các dịch vụ khác.

Tương tự là câu chuyện của startup bán hàng qua mạng. Khi người mua chưa quen với việc thanh toán trực tuyến trả trước, các công ty làm thương mại điện tử đã chấp nhận dùng cách trả tiền mặt khi nhận hàng (cash–on–delivery) để giải quyết vấn đề này. Mặt khác, nhiều đơn vị còn tận dụng mạng lưới xe ôm có sẵn để giao hàng.

Một cách ngắn gọn, mô hình kinh doanh có thể học hỏi từ các tượng đài thành công trên thế giới, nhưng cách làm chi tiết thì khởi nghiệp cần thích ứng với nhu cầu và thị hiếu thị trường.

2. Sẵn sàng làm mọi thứ

Gia tăng quy mô nhanh chóng là một điểm đặc biệt của các startup. Mô hình nào cũng có các chi phí cố đinh và các chi phí biến đổi. Chi phí cố định đầu tư một lần và sau đó không tăng nữa, còn chi phí biến đổi thường thì theo doanh thu. Ở mức đơn giản nhất, startup thường đầu tư một lần vào các chi phí cố định như nhân sự, cơ sở hạ tầng hay nghiên cứu phát triển. Sau đó, chi phí phục vụ 1000 khách hàng cũng xấp xỉ chi phí phục vụ cho 1 khách hàng, vì mọi thao tác đã được tự động hóa cho hệ thống máy tính xử lý. Chi phí biến đổi tăng rất ít so với độ tăng doanh thu; và tăng trưởng lợi nhuận chủ yếu từ đó mà ra.
Hấp dẫn hơn, chi phí đầu tư hạ tầng đang ngày càng giảm nhờ những tiến bộ trong công nghệ phần cứng, máy chủ và công nghệ điện toán đám mây. Ngày nay startup, có nhiều lựa chọn máy chủ hơn, ví dụ có thể chọn thuê Amazon Web Services và đẩy áp lực số người dùng vào hệ thống cho Amazon xử lý. Ngoài ra startup ít gặp phải các rào cản địa lý và vật lý. Công ty ở TPHCM có thể phục vụ khách hàng cả nước hoặc xuyên quốc gia. Chi phí quảng bá trên internet thấp hơn và thông tin có thể tự lan truyền.

Với những lợi thế đó, có thể dễ dàng nghĩ rằng startup chỉ cần đầu tư làm sản phẩm thật tốt rồi người dùng sẽ tự tìm đến và giới thiệu cho nhau. Thực tế không màu hồng như vậy. Có nhiều sản phẩm đã ra đời rồi ra đi lặng lẽ. Ở Việt Nam nhiều sản phẩm ăn theo Twitter, Digg hay Weibo từng ra đời với chất lượng tốt, nhưng vẫn chưa thể có đủ doanh thu để phát triển. Làm sản phẩm tốt chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ để startup tồn tại. Cần sẵn sàng làm những thứ không tự tăng quy mô nhanh chóng.

3. Chăm sóc những khách hàng đầu tiên

Tôi còn nhớ khi mới khởi nghiệp, anh Trần Ngọc Thái Sơn – Người sáng lập startup thương mại điện tử Tiki.vn – đã nói chuyện trực tiếp với rất nhiều khách hàng, lắng nghe nhu cầu của họ và đưa những thay đổi cần thiết vào sản phẩm và cả định hướng công ty. Những người sáng lập trang thương mại điện tử Sendo.vn của FPT cũng vậy, họ sẵn sàng ngồi nhiều ngày với tôi để phỏng vấn rất chi tiết trải nghiệm mua hàng trên mạng rồi ứng dụng vào sản phẩm. Nhiều bạn là tổng giám đốc các công ty ứng dụng di động cũng dành thời gian hỗ trợ hết mình khi tôi dùng thử sản phẩm của họ. Những việc này rất tốn chi phí, nhưng lại quyết định giữa chuyện có khách hàng hay không.

Nhóm khách hàng đầu tiên rất quan trọng, vì bản thân họ cũng chịu rủi ro nhất định hoặc ít nhất là mất thời gian để trải nghiệm sản phẩm, dịch vụ của startup. Đích thân các nhà sáng lập nên tiếp xúc với khách hàng và thuyết phục họ dùng sản phẩm. Ngoài việc làm cho khách hàng “sướng” vì được người cao nhất của công ty phục vụ, nhà sáng lập còn trực tiếp thấy cách khách hàng sử dụng sản phẩm và nghe được những phản hồi để điều chỉnh quy trình, hướng đi, cách làm cho phù hợp.

Tuy nhiên, như đã nói, việc đích thân đi phục vụ khách hàng khá tốn kém (nhất là thời gian) nên các startup nên tập trung vào những đối tượng trong phân khúc mình muốn phục vụ bằng cách vẽ chân dung khách hàng phù hợp trước; và nên tập trung vào những khách hàng có độ ảnh hưởng lớn lên cộng đồng. Ngoài ra, khi chưa đủ quy mô để cạnh tranh về giá, hãy cạnh tranh bằng chất lượng dịch vụ khác biệt. Khi chưa có ngân sách dồi dào để đẩy mạnh quảng cáo ngay từ đầu như Lazada hay Chotot, hãy cạnh tranh bằng trải nghiệm thật tốt.

4. Chăm sóc cả những đối tác đầu tiên

Có được vài khách hàng đầu tiên là một mặt của câu chuyện. Mặt khác, có mạng lưới đối tác lớn là một yếu tố cực kỳ quan trọng. Mạng lưới đối tác sẽ mang đến nguồn cung sản phẩm đa dạng, hoặc dịch vụ cộng thêm cho khách hàng. Thực tế, các startup sẽ khó khăn khi tiếp cận đối tác vì đối tác thường đã là công ty lớn. Chính vì vậy, người cao nhất công ty cũng nên đi phát triển mạng lưới đối tác đầu tiên. Payoo đã tìm đến hệ thống đối tác thanh toán hóa đơn điện nước, chuyển học phí cho các trường Đại học và một số đơn vị thương mại điện tử. Việc này khó tăng quy mô một cách tự động, nhưng là điều mà startup bắt buộc phải làm để tạo ra giá trị cho người dùng cuối.

5. Chấp nhận cách làm thủ công

Trong quá trình xây dựng sản phẩm, có khá nhiều công đoạn buộc phải xử lý bằng tay. Lý do không phải vì không thể dùng những thuật toán để tìm dữ liệu có sẵn, mà vì làm dữ liệu ban đầu bằng tay mới tạo trải nghiệm cá nhân hóa cho người dùng. Ví dụ, sản phẩm mạng lưới du lịch mới có thể chọn cách lấy dữ liệu có sẵn từ đâu đó, nhưng viết lại từ đầu sẽ hướng chính xác vào tâm lý và quãng đường khách du lịch đã hoặc sẽ đi qua. Những ngày đầu, Facebook phải nhập tay thông tin trường học và mạng lưới các công ty lớn. Công đoạn này rất mệt mỏi, nhàm chán, nhưng ở giai đoạn đầu là cần thiết.

6. Đừng chờ sản phẩm hoàn hảo

Chờ đến khi sản phẩm hoàn hảo mới tung ra thị trường là một cái bẫy tâm lý dễ gặp phải. Đương nhiên, không ai muốn đứa con mình thai nghén trình làng khi còn khiếm khuyết. Tuy nhiên, có 3 lý do không nên chờ đến khi sản phẩm hoàn hảo. Đầu tiên, không biết bao giờ là hoàn hảo, vì khi đạt đến độ “hoàn hảo” thì có thể người kỹ sư lại nghĩ ra thêm những thứ mới để chỉnh sửa hoặc thêm thắt. Kế đến, nếu chờ đến khi sản phẩm hoàn hảo, có thể đối thủ nội địa hoặc nước ngoài đã ra sản phẩm trước và chiếm mất lợi thế người dẫn đầu. Cuối cùng, có thể khách hàng không cần dùng hết mọi tính năng mình muốn cung cấp.

Vì vậy, khi cảm thấy hài lòng với sản phẩm ở mức nhất định, hãy tung ra ngay. Quan sát phản ứng của thị trường, cầu thị tiếp nhận phản hồi và điều chỉnh sản phẩm thật nhanh theo ý kiến khách hàng. Đôi khi, làm cách này thì sản phẩm sẽ đi theo một hướng rất khác so với người sáng lập tưởng tượng ban đầu. Nhưng sự thay đổi và thích nghi sẽ tạo ra một sản phẩm thực tế và “gãi đúng chỗ ngứa” của khách hàng hơn.

7. Không bao giờ đợi nhà đầu tư

Quan trọng nhất đối với startup là chuyển động không ngừng. Những người khởi nghiệp lần đầu có thể nghĩ rằng cần có nhà đầu tư vì họ mang đến vốn, kinh nghiệm và quan hệ để đẩy công ty phát trển nhanh. Điều này hoàn toàn đúng, nhưng thực tế thường diễn ra rất khác. Quy trình thẩm định đầu tư có thể kéo dài hơn dự định đến cả năm; có thể những kế hoạch kêu gọi đầu tư đi theo hướng không mong muốn. Startup nên tập trung vào những điểm mấu chốt: làm sản phẩm, tiếp cận khách hàng và mang doanh thu về. Khi chưa có đầu tư thì buộc phải chạy marketing tiết kiệm, nâng cao năng suất của đội ngũ hiện có để đưa công ty vào thế buộc phải tự đứng trên đôi chân của mình. Sự cứng cáp của người khởi nghiệp được trui rèn từ đó.

Khởi nghiệp là một quá trình gian nan dai dẳng, có tỉ lệ rủi ro rất cao. Để tồn tại, khởi nghiệp buộc phải chọn chiến lược thông minh. Doanh nhân nên tin vào trực giác của mình và cả những bằng chứng phản trực giác để đưa ra lựa chọn sáng suốt nhất cho startup.

Bài đã đăng trên Nhịp Cầu Đầu Tư.

Proof: Annuity and Perpetuity

By , December 16, 2015 8:40 am


Nhu cầu mua hàng Thương Mại Điện Tử

By , December 16, 2015 8:39 am

Nhân dịp beyeu.com (backed by IDGVV & webtretho) để lại lời nhắn gây nhiều tranh cãi, tôi cũng bon chen tí.

Đối với Thương Mại Điện Tử và Thanh Toán Trực Tuyến thì tôi có 2 vai chính: (1) người mua hàng, (2) người làm đầu tư.
Ngoài ra thì còn (3) dốt công nghệ mà bị yêu công nghệ không bao giờ dứt được.
(2) + (3) => (4) đã từng làm một evangelist không mệt mỏi cho TMĐT & TTTT.

Giờ nói về vai trò (1) người mua hàng trước nhé.

Lúc một bạn đến gặp tôi làm khảo sát cho Visa, tôi có trả lời “khoảng 85% chi tiêu của tôi là qua TMĐT”, họ không tin.

Nhu cầu của MỘT người mua hàng:

1. Nguồn hàng

  • Đây là lý do chính nhất.
  • Đây là lý do tôi quyết định chọn mua ở dịch vụ nào.
  • Đây là lý do tôi mua rất nhiều từ eBay cho dù rủi ro hàng fake cực lớn.
  • Có 2 yếu tố: (1) độ hiếm – độc – lạ của hàng. eBay có rủi ro hàng fake nhưng cái đuôi của nó rất dài (tuy có những lúc tôi săn hàng hiếm đến eBay không có). (2) purchaser của dịch vụ phải biết các mua hàng.
  • Khi có nguồn hàng tốt thì tôi chấp nhận các rủi ro để mua hàng luôn: rủi ro hàng fake, rủi ro dịch vụ chăm sóc khách hàng không tốt. Gặp sự cố mà không xử lý được thì bye.
  • Chuyện evangelizing: khi cố thuyết phục đồng nghiệp mua hàng TMĐT, có một chị browse qua category sữa xong bĩu môi “chị ra Nguyễn Thông mua còn rẻ hơn”. Khi mà TMĐT chưa đủ quy mô (scale) hoặc chưa đủ vốn (như Rocket Internet) hoặc chưa có hậu thuẫn của tập đoàn (như Vin e-Com) để deal giá với nhà cung cấp thì bán hàng mà khách mua được qua kênh truyền thống không hiệu quả.
  • Tôi mua thường xuyên của: Adayroi, Tiki, Vinabook. Tính giá trị trung bình đơn hàng thì Lazada xếp nhất, mua đồ điện tử.

2. Chất lượng chăm sóc khách hàng

  • Đối với hầu hết người mua mainstream, khuyến mãi và/hoặc giá làm họ đặt đơn hàng đầu tiên. Chất lượng chăm sóc khách hàng làm họ quay lại mua các lần kế. Khi mua quen họ bỏ thói quen so sánh giá. Lãi đến từ khách hàng quay lại mua hàng; lần mua đầu tiên thì phải tốn nhiều chi phí.
  • Tôi đã từng cãi nhau bảo vệ các dịch vụ TMĐT rất mạnh mẽ cho đến khi bị NhomMua phũ không thèm xử lý sự cố với nhà cung cấp. Lúc đó NhomMua vừa công bố nhận đầu tư 60 triệu và vẫn cơm lành canh ngọt; thấy bị phũ là biết họ đang chạy doanh số và không đầu tư đủ vào chăm sóc khách hàng.
  • Các dịch vụ CSKH tốt đã dùng: 6ix, Adayroi, Chon, Hotdeal, Solo (VCCorp), Tiki, Vinabook, Vietnammm.

3. Thanh toán trực tuyến

  • Lý do cá nhân: Riêng tôi thì quyết định mua là tin tưởng rồi và không đề phòng nữa, thanh toán trước cho gọn. Thêm nữa là công việc của tôi không ở yên một chỗ nên thanh toán trước để người khác nhận giùm thôi khỏi COD. Lý do này không đại diện cho phần lớn khách hàng.
  • Như đã nói nhiều lần, chi phí COD giờ thấp hơn chi phí TTTT. Điểm tốt: logistics phát triển. Điểm không có lợi cho riêng tôi: TTTT (cụ thể là nhóm ngân hàng và dịch vụ liên quan ngân hàng như Banknetvn+Smartlink) tiếp tục không thèm quan tâm người bán và người mua nhỏ lẻ.
  • NganLuong làm được rất nhiều thứ nhưng quá ít người bán cắm, rất buồn.
  • Đây là một yếu tố rất yếu, nhưng nó quan trọng đối với một vài cá nhân.
  • Niềm vui là một vài ví dụ thành công: Sohapay (chạy trên nền OnePay) đã có volume tốt, Adayroi và nhiều bạn khác bảo có nhiều thanh toán qua thẻ tín dụng, Tiki kiên trì với OnePay và đẩy mạnh thanh toán thẻ tín dụng.
  • Có một mảng nữa là các cửa hàng buôn bán nhỏ lẻ bằng Facebook page và Instagram. Mua hàng phải chuyển khoản 50 – 100% giá trị món hàng, phí chuyển khoản liên ngân hàng người mua chịu. Rủi ro người mua chịu vì không có Escrow. Thị trường này có ai quan tâm không?

4. Giá

Giá nằm khá sâu ở dưới.

Sau ví dụ sữa Nguyên Thông ở trên thì xin phép cho thêm một ví dụ.

Tôi mua cái áo polo Lacoste giá $35 ở Saks Fifth Avenue, free shipping về kho của freight forwarder ở Mỹ, tiền vận chuyển California đến nhà tôi khoảng $7-8/kg. Lột hết bao bì ra, một kg được bao nhiêu cái áo.

Khi bán hàng chính ngạch thì phải chịu: thuế tiêu thụ đặc biệt 20% + VAT 10% + phí hải quan. Sau đấy là phí kho bãi, kiểm kê hàng hoà, vận hành…

Ví dụ khác: hàng xách tay Quảng Châu, hàng Thái, mỹ phẩm Hàn.

Đưa ví dụ để nói là trước mắt các bạn bán hàng chính ngạch rất khó đấu nhau bằng giá với các hàng xách tay. Thêm yếu tố chưa đủ scale để deal với nhà cung cấp ở phía trên vừa nói. Ngoài ra còn mấy bạn bán hàng từ CCchùa nữa.

Nên đối với riêng tôi thì nguồn hàng ngon trước rồi mới tính tới giá.

Kết lại

Như sếp Nguyen Tri Dat hay rủa “tao không bán hàng cho thằng Tài đâu”, nhu cầu của tôi không hề đại diện cho phần lớn khách hàng. Mà lâu lâu cứ se sẽ đề đạt nguyện vọng, mong có ai đó thèm quan tâm vậy.

Từ đây đến cuối năm còn đặt ít nhất 4 đơn hàng với Adayroi. Bạn bè rủa “mày có nhận tiền PR cho Vingroup không đấy?” Khổ thân, làm như dễ ăn tiền của xã hội lắm vậy. Trong nhiều thứ không mua được thì có thứ mua được nên khoe vậy thôi.

Panorama Theme by Themocracy