Investment Due Diligence for the Junior Investment Analyst

By , March 18, 2015 4:58 am

There are four main sections for a Due Diligence process.

1. Product & Technical DD

Main question: Does the product work the way it should?

Skills required: Technical skill you already have acquired. Technical may include: inspecting the machine, product review, code review.

If you don’t have the technical skill, bring in an expert in the field.

2. Commercial DD

Main question: Can the product sell in this market?

Skills required: Market research skill.

If you have the budget, bring in a market researcher. But normally business graduates even non-Marketing major should already have basic market research skill.

3. Financial DD

Skills required: Financial Statement Analysis skill. The source for this skill comes from your Accounting courses and CFA.

Pay attention to tax liabilities that may arise from the transaction.

If by any chance the investor or your boss insists on an external expert, bring in Big-4.

4. Legal DD

Main question: Is the deal legally feasible? Any legal red flag?

I find legal the toughest aspect of DD. This should go to the company lawyer or legal partner to reduce the risk upfront.

 

Essentially those are the main questions. From these main questions you can compose a thousand questions to the potential investee basing on your knowledge and experience.

DD is usually scheduled for one working week which is 5 working days where you sit with the company and go through all the items in an intensive mode.

Because of the intensity and stress, try to push as many items to pre-DD. Commercial DD should totally be in the pre-DD.

During DD process, many assumptions and information will be challenged. Keep your perspective open.

Image source: Dilbert

When that Finance guy startups

By , January 2, 2015 6:50 pm

He has an appetite for optimizing the business model. He probably has read a zillion business plans so vision-mission and strategy alone wouldn’t do. He will dive into details of market size, input, output, sequence, process, suppliers, and customers.

He’s obsessed with scalability.

He immediately conjures the whole (projected) financial statements in his brain before speaking any word. He sets the amplitude for each major (and probably minute) item e.g. how do we snug ourselves neatly in this 15% operating expense?

He can’t dream the way *entrepreneurship* founders do. He scrutinizes instead.

If he’s not the CEO, he is usually the compulsive data-validator and reality verifier who usually throws cold water should the founding team gets carried away. He’s definitely not the most likable guy in the room, usually the exact opposite. He’s not at all a pessimist, he’s simply a devil’s advocate.

Why do financiers startup? The most recurring pattern I observed is market. Some markets don’t exist where they ought to. Some other markets have only been penetrated by a few players where the monopoly / duopoly is ruptile.

Are financiers motivated by money for starting up? We’re talking about finance, other than plutomania, what else can it be.

18 December 2014

By , December 18, 2014 6:33 pm

I don’t know why the market panicked on Wed 17-Dec-2014 but it was a fun ride.

Unfortunately, Thu 18-Dec-2014 was rebalancing of ETF. The buy window didn’t last to the second day to the 18th.

A quick glance at Rocket Internet financials

By , December 12, 2014 5:51 pm

Rocket Internet (công ty đầu tư Lazada, Zalora) làm tiền hay kinh điển

Chi phí để bán được hàng gấp 3 lần doanh thu từ các công ty liên kết.

Bản chất entity Rocket Internet không phải công ty công nghệ mà là công ty đầu tư (giống Kinh Đô). Không book doanh thu từ công ty liên kết vào Operating Revenue mà book vào Financial Revenue.

Kết quả là âm ngay từ Gross Margin, thả cho Net Margin vừa hoà vốn. Tính toán Deferred Tax ngon lành.

Đang cầm số tiền mặt cao gần gấp 20 lần số lỗ trước thuế, chắc là để xoay vòng, xoay vòng. Số tiền mặt bằng 112% tổng giá trị đã đầu tư, kỹ tính quá.

Mọt sách tí thì dùng Residual Earnings chứ đừng lấy Free Cash Flow.

Lâu lâu academic với investment banker mới gặp nhau ở định nghĩa này: risk is uncertainty of outcome. Theo định nghĩa này, Rocket Internet KHÔNG hề rủi ro. Hãy yên tâm tăng trưởng.

Case study: học sinh có thể học gì từ Uber Vietnam

By , December 10, 2014 7:12 pm

Pháp lý

Mô hình gốc của Uber là tận dụng chỗ trống của các chủ xe lẻ. Mới vào VN (và nhiều nước) thì Uber thuê các công ty vận tải để giảm rủi ro pháp lý và dễ kiểm soát chất lượng.

Giá cả

Mới nên đương nhiên phải loss leader. Nhưng không chỉ loss leader, Uber còn đã đang tăng giá giờ cao điểm.

Không nhớ loss leader là gì thì hỏi các em 6 tuổi: Kem Con Chồn mới ra thì rõ ngon mà rẻ. Các kem Con Cáo, Con Cún, Con Cat ế quá chết hết. Thế là Con Chồn vừa dở vừa đắt.

Customer acquisition & retention

Trải nghiệm app tốt nhất trong 3 app, dẫn đến thử sản phẩm.

Thử sản phẩm được dẫn đến thói quen sử dụng. Khi đã sử dụng quen thì mất thói quan so sánh giá.

Định vị

  1. Gián tiếp đặt bản thân vào tư thế đối đầu ngay với hãng taxi dẫn đầu, tạo tâm lý Uber là sản phẩm dẫn đầu, mặc dù EasyTaxi, GrabTaxi vào trước. Kết quả: trong nhận thức người dùng: Uber vs. Vinasun.
  2. Uber bắt đầu từ smart phone app. Nhưng công việc nặng hơn là: pháp lý, vận hành truyền thống, truyền thông.

Nếu dựa trên khối lượng công việc thì không xếp Uber vào công nghệ thuần túy (kiểu như Sở giao dịch chứng khoán xếp FPT vào nhóm Bán lẻ vì doanh thu FTG cao nhất tập đoàn). Nhưng về mặt truyền thông thì Uber nên, đã và đang tự identify là công ty công nghệ vì:

  • Trên thông điệp với người ngoài, tránh tự đặt mình vào ngành giao thông vận tải đối đầu trực diện với các hãng taxi. Nhưng thực tế cuộc chiến khốc liệt nhất nằm ở ngành này. Nói dễ hiểu: nhảy xổ vào vừa bóp cổ Vinasun cật lực vừa cảm thán "Why so fluffy! Cho em nhéo yêu cái hoy nha!"
  • Tranh thủ sự ủng hộ của early adopters, đa phần là dân tech-savvy (không nhất thiết là dân công nghệ) cởi mở và dễ chấp nhận cái mới.

Uber Vietnam đánh thắng trận truyền thông đầu tiên thế nào

  • Dùng influencer tốt.
  • Tuy nhiên, mass media mang tính quyết định hơn social media vì tạo được awareness tới mainstream.
  • Lật ngược thế trận cực tốt sau sự kiện kiểm tra hành chính vì đã tính toán trước, hoặc xử lý khủng hoảng truyền thông tốt.
  • Dùng social media để đẩy tiếp viral.
  • Luôn tự đặt bản thân vào thế người bị hại.

Điểm quan trọng về truyền thông chuyên nghiệp:

  1. Chỉ phát ngôn nhất quán quan điểm chính thức đã thống nhất nội bộ.
  2. Chỉ (những) người có trách nhiệm truyền thông phát biểu.
  3. Chỉ dùng các kênh chính thức gồm thông cáo báo chí chính thức, phỏng vấn báo chí chính thức, website, Facebook page. Đất trung lập thì kích nhẹ có lợi cho mình, đất của địch thì tàu ngầm theo dõi.

Đơn giản vậy thôi nhưng có nhiều nhân viên công ty khác (không được thuê để phát biểu) phát biểu ý kiến cá nhân (không phải quan điểm chính thức của công ty) tán loạn trên các diễn đàn (không phải kênh chính thức) khi có thảo luận (không có chiến lược). Thật ra ngoài Uber thì nhiều công ty khác đã làm tốt rồi, tiện thể lấy làm case study.

Câu hỏi: Uber làm social media làm gì?

Hình dung bài thi có 6 câu.

Câu 3 điểm: pháp lý.

4 câu mỗi câu 1.5 điểm: triển khai quan hệ các nhà xe, vận hành trải nghiệm khách hàng, chiến lược và tầm nhìn, và mass media

Câu 1 điểm: social media.

Tại sao mất công làm câu ít điểm làm gì? Cái này giống một thí sinh overachiever, muốn chắc chắn đậu Y Dược trước khi hết giờ làm bài nên câu nào cũng làm.

Bài tập về nhà

  1. Dự báo quỹ nào sẽ lead syndicate đầu tư round kế vào Uber, để đậu ĐH rồi thì xin vào thực tập quỹ đấy.
  2. Thiết kế roadmap để gom các phiếu Bé Ngoan để được các bác bộ trưởng thương và tin tưởng vào mầm non đất nước.
  3. Xây dựng mô hình sensitivity analysis đánh giá tương quan Ngẫu Nhiên giữa chính sách và quan điểm quần chúng, lấy social media làm proxy cho quần chúng.

Bài trước: Kịch bản chiến lược lobby của Uber

Kịch bản chiến lược lobby của Uber

By , December 10, 2014 7:06 pm

  • Dùng vốn huy động thuê các công ty luật & lobbyist vì đương nhiên mô hình thương mại hoá car pooling là mới nên rủi ro lớn nhất là pháp lý.
  • Đối đầu với các hiệp hội taxi, không đối đầu với cơ quan quản lý. Ở bên kia chiến tuyến, một bước đi rất thông minh là nhóm taxi NYC claim là không muốn giết Uber và đồng bọn mà muốn đặt các startup *non trẻ* (mặc dù vốn hoá của Uber đã là $40b) dưới sự quản lý của hiệp hội taxi.
  • Lấy lòng user và công chúng càng nhiều càng tốt không chỉ bằng quan hệ khách hàng mà bằng chất lượng dịch vụ và loss leader. Trong giới công nghệ trước Uber chỉ có mỗi Jeff Bezos làm được cả 3 ở quy mô lớn.
  • Lấy lòng người sở hữu xe càng nhiều càng tốt. Ví dụ lobby giảm các chế tài vận tải cho phù hợp với tinh thần transportation pooling.
  • Trên lý thuyết, một mô hình kinh doanh mới luôn muốn lobby ra luật mới hoặc ít nhất văn bản dưới luật mới được tính toán riêng cho họ. Hồi hộp chờ đợi quá đi mất.
  • Chống patent troll mọi mặt trận hoặc trở thành patent troll.

Disclaimer: chỉ dùng thông tin công khai; không hề qua trao đổi với bất kỳ nhân viên, cổ đông, đối tác nào của các đơn vị được nhắc đến trong bài.

Nguồn hình: http://www.coca-cola.co.uk/content/en_GB/img/about-us/AM_706x264_SchweppesFishChips.jpg

The Simplest Stock Valuation Formula

By , November 12, 2014 9:30 am

Deriving the Forward Rate Agreement Settlement Formula

By , November 7, 2014 8:30 am

When the interest rate increases from Commencement date to Settlement date, the buyer incurs higher cost of debt.

The difference in cashflow between the actual debt and the theoretical debt on Commencement date rate is

Thus, the settlement amount under the FRA is equal to the difference.

The Business Plan, the Entrepreneur and the Junior Investment Analyst

By , July 30, 2014 3:53 am

It’s a delicate ritual.

Ideally, no-one does the business plan better than the entrepreneur/owner. In reality, most business owners from emerging markets couldn’t be bothered with a written plan; they feel comfortable with the business idea in their head. So, it is naturally the job of the JIA to write the business plan.

Here, the JIA who most likely come from finance/economics background may need to rewrite vision & mission, perform market research, technical product evaluation, strategic planning, develop sales & distribution strategy, marketing plan, human resource capability grading, business risk management, define new KPIs, and a plethora of things s/he never learned during the last internship, nor finance school.

However detailed and elaborate a plan is, I found from my experience the essence of an effective business plan boils down to the following points:

  1. Describe the problem and the product in one slide.
  2. Describe the business model in one diagram.
  3. List the key competitive advantages in 3 sentences.

Business plans are staged in milestones; milestones depending on the business model, R&D, market, and when certain product/service/practice is legalized. Why? Because for many investments, committed capital is only disbursed after the firm has reached a milestone.

The difference between the business plan done for investors and the plan used for operations is the former is usually quarterly and the later weekly.

It is normal to temporarily focus more on industry KPIs in the short-term than on standardized accounting benchmarks, but it will catch up when the auditors come.

Most SME business owners only want to deal with investors and investment managers themselves without involving their managers. However, I found effective CEOs delegate. For example, the Sales plan is best done when the JIA sits down with the Business Development Director. The benefit of such practice is two folds. One, the Sales Lord knows best. Second, when the Business Development Director is involved, s/he is formally committed to the plan.

Things will never work according to plan, but a plan is still needed nevertheless because without a plan it can get even more chaotic.

Lastly, students who participate in business plan competitions may find this note not very useful for the simulated environment the competition takes place.

Tutorial cơ bản: phát triển và sử dụng Value-at-Risk

By , May 9, 2014 2:46 pm

 

Viết theo yêu cầu sếp ACB và Techcombank

1. Nhu cầu sử dụng

Tình hình là Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước SCIC có dùng, vài ngân hàng thương mại dùng.

Cần tính VaR cho:

* Danh mục cổ phiếu (equity portfolio)

* Danh mục công cụ nợ (fixed-income portfolio) phụ thuộc lãi suất (interest rate risk)

* Fixed-income portfolio phụ thuộc rủi ro tín dụng (credit risk)

* Ngoại hối Fx

* Các sản phẩm money markets

* Hàng hoá commodities

* Vàng (đủ quan trọng để tách khỏi hàng hoá), vì tính pháp lý của vàng vật chất ở VN nên lấy tạm hợp đồng vàng giao sau (gold futures) để xét

* Các công cụ phái sinh (derivatives)

2. Sự cân bằng khi phát triển mô hình VaR

Tính toán VaR liên quan mật thiết đến 2 thứ quan trọng là chôn vốn (capital lockup) vào quỹ (reserve / provisions), và information signal.

Thế nên phát triển mô hình tính VaR phải cân bằng được độ an toàn cho phép nhưng không ước lượng quá mức (overestimate).

3. Cách tác giả tiếp cận tính VaR

Có 4 cách tính VaR chính cho equity (1) tuyến tính linear (2) complementary error function erfc (3) sử dụng dữ liệu hiệp phương sai quá khứ historical variance-covariance (4) giả lập tương lai dùng Monte Carlo engine.

Trước khi làm bất cứ gì thì viết một hàm dùng web spider để crawl và SQL để lấy dữ liệu giá mỗi ngày đưa vào array p[n].

Sau đó tính array r[n-1].

a. Cách tuyến tính linear

Cái này cơ bản nhất, chạy regression để có volatility, lấy critical value từ lognormal distribution (hoặc normal distribution) rồi tính VaR.

Pseudo-code như sau:

for (i = 0 ; i < n-1 ; i++)

{

                r[i] = p[i+1] / p[i] – 1;

                sumr += r[i];

}

muyr = sumr / n;

for (i = 0 ; i < n-1 ; i++)

{

                varianceNum += (r[i] – muyr) ^ 2;

}

vol = sqrt(varianceNum / (n-2));

/* */

VaR = getCriticalValue(confidence) * sqrt(multiplyMatrix(multiplyMatrix(w[n]*vol[n], varCov[n][n]),transposeMatrix(w[n]*vol[n]))) * sqrt(BaselForecast / tradingDays);

b. Complementary error function

Đầu tiên viết hàm tính tích phân để ra giá trị erfc

Sau đấy đổ dữ liệu thị trường vào

Đặt a = số ngày giao dịch trong năm

VaR được tính từ:

Pseudo-code cho cách này

for (i = 0 ; i < a ; i++)

{

                while(probability[i][0] < p)

                {

                                probability[i][0] = 1/2 * erf((rmean[i][0] + ln(value) – ln(value – var[i][0])) / (volatility[i][0] * sqrt(2 * 1)));

                                var[i][0] += 1;

                }

                var[i][0] = var[i][0] * (goBackDays – 1);

}

c. Normality using historical variance-covariance

Đầu tiên viết các hàm sau:

Nhân ma trận

Chuyển vị (transpose) ma trận

Cách này tính variance-covariance matrix, rồi dùng quan hệ đó để tính VaR như sau:

Đoạn pseudo-code để thực thi

for (i = 0 ; i < numberOfAssets1 ; i++)

{

weight[i][0] = securityValue1 / (pdt[startPeriod1][i]);

}

file = fopen(fileName,"a");

for (i = 0 ; i < a ; i++)

{

                pdtdfu = pdtdf[(startBack1+i):(startPeriod1+i)][];             // price change

                pdtdfuv = variance(pdtdfu);       // variance of price change, sigma hat

                pdtdfuvf = weight’ * pdtdfuv * weight; // xT * sigma * x

                meanp = meanc(pdtdfu);

                var[0][0] = (-1 * horizon) * weight’ * (meanp’) – (zValueOnePercent * sqrt(horizon*pdtdfuvf));

                realv[0][0] = ( (pdt[startPeriod1+i][]) * weight) – ( (pdt[startPeriod1+i+horizon][]) * weight );     // value at T – value at T+n

                efficiency[0][0] = -realv[0][0] / var[0][0];

                fprint(file, var[0][0],"\t",realv[0][0],"\t",efficiency[0][0],"\n");

}

fclose(file);

d. Giả lập Monte Carlo simulation

Cách này giả lập một số lượng lớn kịch bản sẽ xảy ra trong tương lai. Vì dùng lập trình nên có thể ra hàng tỷ tình huống cũng được. Đặt số tình huống là S.

Một tỷ tình huống sẽ cho ra một tỷ giá trị danh mục giả định trong tương lai. Sau đó sắp xếp một tỷ giá trị này thành histogram.

Khi này, VaR sẽ tìm được bằng cách lấy quantile α. Critical value fα* sẽ nằm giữa giá trị thứ αS và αS+1.

Pseudo-code cho cách này

for (i = 0 ; i < numberOfAssets1 ; i++)

{

                weight[i][0] = securityValue1 / (pdt[startPeriod1][i]);     // value holding for each security

}

file = fopen(fileName,"a");

for (i = 0 ; i < numberOfTradingDays ; i++)             // one year

{

                for (b = 0 ; b < repeatB ; b++)

{

                                portrl = pdt[startPeriod1+i][] + pdtdf[startBack1+i+(ranu(1,1)*scaleMultiplier)][];

                                for (j = 0 ; j < repeatDeltaP ; j++)

                                {

                                                portrl += pdtdf[startBack1+i+(ranu(1,1)*scaleMultiplier)][];        // add simulated price (delta). P*(1,T+n)

                                }

                                portrlv[b][0] = weight’ * (portrl)’;             // realised loss value = realised loss * weight

                }              // after b loop, b values stored to portrlv

                portq = quantilec(portrlv, mq);  // use quantilec command to calculate quantile

                var[0][0] = ((pdt[startPeriod1+i][]) * weight) – portq[0][0];          // weight * price – quantile

                realv[0][0] = ((pdt[startPeriod1+i][]) * weight) – ((pdt[startPeriod1+i+horizon][]) * weight);        // weight & price T – weight * price T+10 (next 10 days)

                efficiency[0][0] = -realv[0][0] / var[0][0];

                fprint(file, var[0][0],"\t",realv[0][0],"\t",efficiency[0][0],"\n");

                }

fclose(file);

}

e. Fixed-income VaR on interest rate

Đối với fixed-income thì quan hệ chính là từ yield curve. Trong đó quan tâm short term, medium term và long term rates.

Fixed-income cũng dùng Monte Carlo được.

f. Derivatives VaR

Cách ít tốn kém để dùng VaR cho derivatives là dùng Greeks, cụ thể là Δ và Γ

Quan hệ giữa thay đổi trong giá trị của underlying asset δS và giá của derivatives contract δV là

Ví dụ đối với Call Option và Put Option lần lượt như sau:

Biến thiên của portfolio:

Biến thiên của giá Option:

Lấy đạo hàm

VaR lấy lower quantile mà ra.

4. Đánh giá mô hình

Linear và erfc có vấn đề là thiếu dynamic.

Không cần chạy test, chỉ cần nhìn tên mô hình Historical data là biết mô hình này sẽ trục trặc ngay chính lúc cần nó để quản trị rủi ro nhất là khi đứng trước biến động lớn.

Simulation quá nhạy với biến động, tuy nhiên vì vậy mà khá hiệu quả với thị trường. Simulation còn không giả định quan hệ quá khứ, cũng không giả định phân phối distribution.

a. Back testing

Cách ít động não nhất để back testing là download dữ liệu xưa nhất có thể, ví dụ từ khi IPO của các stock, hoặc 50 năm lịch sử lãi suất. Để mô hình của mình chạy trên dữ liệu, nếu số violation vượt quá quy định của Basel (1%) thì chém ngay.

Sau đó làm gì thì là một sự tinh tế. Có thể đổi mô hình, có thể cải tiến mô hình manually (nhưng hay hơn là build in một Artificial Intelligence engine để nó tự sửa chính nó), hoặc đổi GIẢ ĐỊNH!

b. Stress testing

Nếu mô hình vẫn phụ thuộc vào quan hệ quá khứ hoặc phụ thuộc giả định distribution thì buộc phải tự chọn dữ liệu từ các đợt sập sàn (market crashes), khủng hoảng, sốc kinh tế (economic shock).

Đối với stress testing thì tác giả thích dùng simulation hơn vì có thể tăng ga cho engine đến kịch kim và test được rất nhiều tình huống. Khi này, stress testing sẽ làm một multivariate model, thảy vài quả bomb vào các driving factor xem có thoả được Basel không. Nếu muốn vẽ chart đẹp thì làm multi-dimensional sensitivity analysis luôn.

Nguyên tắc là vậy thôi. Vấn đề thật sự là interpret kết quả thế nào, và làm gì với nó mà không bị rời mắt khỏi mục tiêu là giảm capital lockup.

5. Vấn đề cần quan tâm khi sử dụng VaR

* Quan hệ giữa các VaR cho các portfolio khác nhau, vì chúng không hoàn toàn độc lập (autocorrelated).

* Thừa kế mô hình và không hoàn toàn làm chủ nó.

* Thay đổi pháp lý.

* Tính VaR chỉ là vấn đề kỹ thuật, Quant nào cũng làm được. Vấn đề thuyết phục tổ chức sử dụng VaR, và các phức tạp phát sinh sau đó.

* Nhân lực quản trị VaR và các công cụ tương tự: tối thiểu Master in Financial Engineering, hoặc combo Master in Finance + Bachelor in Engineering. Số người làm được thì không ít, nhưng không đủ cung ứng cho các ngân hàng, tổ chức tín dụng, công ty đầu tư ở VN.

Panorama Theme by Themocracy