Posts tagged: entrepreneurship

7 yếu tố giúp startup trường tồn

By , December 16, 2015 8:49 am

Doanh nhân nào chọn khởi nghiệp với công nghệ (startup) cũng mong muốn thành công như những thần tượng của mình, nhưng để công ty sống sót và tồn tại đã là một thử thách không hề dễ dàng.

Tôi biết những người sáng lập Payoo, ví điện tử được TPHCM và Hà Nội chọn làm công cụ thanh toán tiền điện trực tuyến, từ năm 2006. Sau gần 10 năm theo dõi quá trình phát triển của công ty khởi nghiệp công nghệ (startup) này ở nhiều vai trò như người trực tiếp, người giới thiệu cho bạn bè dùng các sản phẩm thanh toán trực tuyến, nhà quản lý quỹ đầu tư hay giảng viên tìm tư liệu đưa vào bài giảng, Payoo luôn làm cá nhân tôi hứng thú về cách mà họ tồn tại trong thị trường thanh toán trực tuyến đầy khắc nghiệt tại Việt Nam.

Payoo tham gia vào thị trường thanh toán trực tuyến khi mà các đối thủ đang nắm trong tay những lợi thế vô cùng lớn. Ví dụ, Smartlink có kết nối tốt với hệ thống chuyển mạch ngân hàng; OnePay có lợi thế kết hợp được với các đối tác mà khách hàng của họ đã quen với việc thanh toán trực tuyến; NganLuong đã có sẵn đối tượng khách hàng thương mại điện tử của PeaceSoft; còn SohaPay thì mặc nhiên được phục vụ cho khách hàng của VCCorp. Đấy là chưa kể đến việc 3 công ty viễn thông lớn của Việt Nam có thể nhảy vào thị trường thanh toán qua điện thoại di động bất cứ lúc nào, nếu họ muốn.

Trong bối cảnh như vậy, chuyện Payoo không chỉ bền bỉ tồn tại và phát triển, mà còn nhận được đợt đầu tư lớn từ tập đoàn NTT Data (Nhật) rõ ràng là đáng ghi nhận. Những bài học dưới đây sẽ không dừng lại ở trường hợp đơn lẻ là Payoo, mà đã được rút ra từ nhiều startup nổi bật khác.

1. Thích ứng với từng thị trường

Ở các nước phát triển, khi nói đến thanh toán trực tuyến thì người ta nghĩ ngay đến giải quyết vấn đề khi mua hàng qua mạng. Tuy nhiên, khi mà đại đa số người Việt vẫn chưa quen việc thanh toán trực tuyến trả tiền trước khi mua hàng qua mạng, hoặc thậm chí là không có nhu cầu mua sản phẩm qua mạng thì startup trong lĩnh vực này phải làm thế nào? Payoo đã khởi đầu và vẫn đang tiếp tục cung cấp giải pháp cho một nhu cầu có sẵn của người dùng là nạp tiền cho điện thoại di động (Topup). Cách làm này là sự thích ứng với thị trường, giúp tạo ra doanh thu để duy trì công ty và từ đó phát triển tiếp các dịch vụ khác.

Tương tự là câu chuyện của startup bán hàng qua mạng. Khi người mua chưa quen với việc thanh toán trực tuyến trả trước, các công ty làm thương mại điện tử đã chấp nhận dùng cách trả tiền mặt khi nhận hàng (cash–on–delivery) để giải quyết vấn đề này. Mặt khác, nhiều đơn vị còn tận dụng mạng lưới xe ôm có sẵn để giao hàng.

Một cách ngắn gọn, mô hình kinh doanh có thể học hỏi từ các tượng đài thành công trên thế giới, nhưng cách làm chi tiết thì khởi nghiệp cần thích ứng với nhu cầu và thị hiếu thị trường.

2. Sẵn sàng làm mọi thứ

Gia tăng quy mô nhanh chóng là một điểm đặc biệt của các startup. Mô hình nào cũng có các chi phí cố đinh và các chi phí biến đổi. Chi phí cố định đầu tư một lần và sau đó không tăng nữa, còn chi phí biến đổi thường thì theo doanh thu. Ở mức đơn giản nhất, startup thường đầu tư một lần vào các chi phí cố định như nhân sự, cơ sở hạ tầng hay nghiên cứu phát triển. Sau đó, chi phí phục vụ 1000 khách hàng cũng xấp xỉ chi phí phục vụ cho 1 khách hàng, vì mọi thao tác đã được tự động hóa cho hệ thống máy tính xử lý. Chi phí biến đổi tăng rất ít so với độ tăng doanh thu; và tăng trưởng lợi nhuận chủ yếu từ đó mà ra.
Hấp dẫn hơn, chi phí đầu tư hạ tầng đang ngày càng giảm nhờ những tiến bộ trong công nghệ phần cứng, máy chủ và công nghệ điện toán đám mây. Ngày nay startup, có nhiều lựa chọn máy chủ hơn, ví dụ có thể chọn thuê Amazon Web Services và đẩy áp lực số người dùng vào hệ thống cho Amazon xử lý. Ngoài ra startup ít gặp phải các rào cản địa lý và vật lý. Công ty ở TPHCM có thể phục vụ khách hàng cả nước hoặc xuyên quốc gia. Chi phí quảng bá trên internet thấp hơn và thông tin có thể tự lan truyền.

Với những lợi thế đó, có thể dễ dàng nghĩ rằng startup chỉ cần đầu tư làm sản phẩm thật tốt rồi người dùng sẽ tự tìm đến và giới thiệu cho nhau. Thực tế không màu hồng như vậy. Có nhiều sản phẩm đã ra đời rồi ra đi lặng lẽ. Ở Việt Nam nhiều sản phẩm ăn theo Twitter, Digg hay Weibo từng ra đời với chất lượng tốt, nhưng vẫn chưa thể có đủ doanh thu để phát triển. Làm sản phẩm tốt chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ để startup tồn tại. Cần sẵn sàng làm những thứ không tự tăng quy mô nhanh chóng.

3. Chăm sóc những khách hàng đầu tiên

Tôi còn nhớ khi mới khởi nghiệp, anh Trần Ngọc Thái Sơn – Người sáng lập startup thương mại điện tử Tiki.vn – đã nói chuyện trực tiếp với rất nhiều khách hàng, lắng nghe nhu cầu của họ và đưa những thay đổi cần thiết vào sản phẩm và cả định hướng công ty. Những người sáng lập trang thương mại điện tử Sendo.vn của FPT cũng vậy, họ sẵn sàng ngồi nhiều ngày với tôi để phỏng vấn rất chi tiết trải nghiệm mua hàng trên mạng rồi ứng dụng vào sản phẩm. Nhiều bạn là tổng giám đốc các công ty ứng dụng di động cũng dành thời gian hỗ trợ hết mình khi tôi dùng thử sản phẩm của họ. Những việc này rất tốn chi phí, nhưng lại quyết định giữa chuyện có khách hàng hay không.

Nhóm khách hàng đầu tiên rất quan trọng, vì bản thân họ cũng chịu rủi ro nhất định hoặc ít nhất là mất thời gian để trải nghiệm sản phẩm, dịch vụ của startup. Đích thân các nhà sáng lập nên tiếp xúc với khách hàng và thuyết phục họ dùng sản phẩm. Ngoài việc làm cho khách hàng “sướng” vì được người cao nhất của công ty phục vụ, nhà sáng lập còn trực tiếp thấy cách khách hàng sử dụng sản phẩm và nghe được những phản hồi để điều chỉnh quy trình, hướng đi, cách làm cho phù hợp.

Tuy nhiên, như đã nói, việc đích thân đi phục vụ khách hàng khá tốn kém (nhất là thời gian) nên các startup nên tập trung vào những đối tượng trong phân khúc mình muốn phục vụ bằng cách vẽ chân dung khách hàng phù hợp trước; và nên tập trung vào những khách hàng có độ ảnh hưởng lớn lên cộng đồng. Ngoài ra, khi chưa đủ quy mô để cạnh tranh về giá, hãy cạnh tranh bằng chất lượng dịch vụ khác biệt. Khi chưa có ngân sách dồi dào để đẩy mạnh quảng cáo ngay từ đầu như Lazada hay Chotot, hãy cạnh tranh bằng trải nghiệm thật tốt.

4. Chăm sóc cả những đối tác đầu tiên

Có được vài khách hàng đầu tiên là một mặt của câu chuyện. Mặt khác, có mạng lưới đối tác lớn là một yếu tố cực kỳ quan trọng. Mạng lưới đối tác sẽ mang đến nguồn cung sản phẩm đa dạng, hoặc dịch vụ cộng thêm cho khách hàng. Thực tế, các startup sẽ khó khăn khi tiếp cận đối tác vì đối tác thường đã là công ty lớn. Chính vì vậy, người cao nhất công ty cũng nên đi phát triển mạng lưới đối tác đầu tiên. Payoo đã tìm đến hệ thống đối tác thanh toán hóa đơn điện nước, chuyển học phí cho các trường Đại học và một số đơn vị thương mại điện tử. Việc này khó tăng quy mô một cách tự động, nhưng là điều mà startup bắt buộc phải làm để tạo ra giá trị cho người dùng cuối.

5. Chấp nhận cách làm thủ công

Trong quá trình xây dựng sản phẩm, có khá nhiều công đoạn buộc phải xử lý bằng tay. Lý do không phải vì không thể dùng những thuật toán để tìm dữ liệu có sẵn, mà vì làm dữ liệu ban đầu bằng tay mới tạo trải nghiệm cá nhân hóa cho người dùng. Ví dụ, sản phẩm mạng lưới du lịch mới có thể chọn cách lấy dữ liệu có sẵn từ đâu đó, nhưng viết lại từ đầu sẽ hướng chính xác vào tâm lý và quãng đường khách du lịch đã hoặc sẽ đi qua. Những ngày đầu, Facebook phải nhập tay thông tin trường học và mạng lưới các công ty lớn. Công đoạn này rất mệt mỏi, nhàm chán, nhưng ở giai đoạn đầu là cần thiết.

6. Đừng chờ sản phẩm hoàn hảo

Chờ đến khi sản phẩm hoàn hảo mới tung ra thị trường là một cái bẫy tâm lý dễ gặp phải. Đương nhiên, không ai muốn đứa con mình thai nghén trình làng khi còn khiếm khuyết. Tuy nhiên, có 3 lý do không nên chờ đến khi sản phẩm hoàn hảo. Đầu tiên, không biết bao giờ là hoàn hảo, vì khi đạt đến độ “hoàn hảo” thì có thể người kỹ sư lại nghĩ ra thêm những thứ mới để chỉnh sửa hoặc thêm thắt. Kế đến, nếu chờ đến khi sản phẩm hoàn hảo, có thể đối thủ nội địa hoặc nước ngoài đã ra sản phẩm trước và chiếm mất lợi thế người dẫn đầu. Cuối cùng, có thể khách hàng không cần dùng hết mọi tính năng mình muốn cung cấp.

Vì vậy, khi cảm thấy hài lòng với sản phẩm ở mức nhất định, hãy tung ra ngay. Quan sát phản ứng của thị trường, cầu thị tiếp nhận phản hồi và điều chỉnh sản phẩm thật nhanh theo ý kiến khách hàng. Đôi khi, làm cách này thì sản phẩm sẽ đi theo một hướng rất khác so với người sáng lập tưởng tượng ban đầu. Nhưng sự thay đổi và thích nghi sẽ tạo ra một sản phẩm thực tế và “gãi đúng chỗ ngứa” của khách hàng hơn.

7. Không bao giờ đợi nhà đầu tư

Quan trọng nhất đối với startup là chuyển động không ngừng. Những người khởi nghiệp lần đầu có thể nghĩ rằng cần có nhà đầu tư vì họ mang đến vốn, kinh nghiệm và quan hệ để đẩy công ty phát trển nhanh. Điều này hoàn toàn đúng, nhưng thực tế thường diễn ra rất khác. Quy trình thẩm định đầu tư có thể kéo dài hơn dự định đến cả năm; có thể những kế hoạch kêu gọi đầu tư đi theo hướng không mong muốn. Startup nên tập trung vào những điểm mấu chốt: làm sản phẩm, tiếp cận khách hàng và mang doanh thu về. Khi chưa có đầu tư thì buộc phải chạy marketing tiết kiệm, nâng cao năng suất của đội ngũ hiện có để đưa công ty vào thế buộc phải tự đứng trên đôi chân của mình. Sự cứng cáp của người khởi nghiệp được trui rèn từ đó.

Khởi nghiệp là một quá trình gian nan dai dẳng, có tỉ lệ rủi ro rất cao. Để tồn tại, khởi nghiệp buộc phải chọn chiến lược thông minh. Doanh nhân nên tin vào trực giác của mình và cả những bằng chứng phản trực giác để đưa ra lựa chọn sáng suốt nhất cho startup.

Bài đã đăng trên Nhịp Cầu Đầu Tư.

A question on Enterprise 2.0

By , April 23, 2009 8:21 pm

Question for Enterprise 2.0 - Communication, Information Sharing, Marketing, Production, Operations, Management, Leadership

Toward Enterprise 2.0 – positioning the 2.0 characteristics in an Enterprise and some suggestions for FPT

By , April 17, 2009 11:04 am

1. Introduction

This article discusses implications behind the adoption of a “2.0” approach to corporate management. This article is built on and extends the introductory discussion of an FPT HR representative on their application of 2.0 to internal communications. It seeks an equivalent position of the 2.0 characteristics within an organization. Basing on this finding, recommendations are given to FPT.


Hi TaiTran,
Ko hiểu youtube có lỗi hay do mạng lởm nên tôi ko trả lời bạn trực tiếp được tại video trên youtube. Quản trị 2.0.
Quản trị 2.0 là khái niệm được FPT nhắc tới bắt đầu từ 2008, đơn giản là ứng dụng 2.0 vào công việc quản trị. Các bạn chắc biết rõ hơn tôi về web 1.0 và 2.0 và biết sự khác biệt giữa 1.0 – tiếp nhận thông tin 1 chiều và 2.0 tăng tính tương tác.
Quản trị 2.0 tương tự:
– Đưa ứng dụng web 2.0 vào việc quản trị. Ví dụ mở các kênh tiếp nhận thông tin từ nhân viên qua blog công ty để lãnh đạo lắng nghe ý kiến nhân viên tốt hơn. Các lãnh đạo tự mở blog cá nhân để chia sẻ về suy nghĩ bản thân, truyền tải thông điệp lãnh đạo (ko nhất thiết trong công việc) để gần hơn với nhân viên và tiếp thu thông tin.
Hiện FPT đang có kênh 2.0 đặc trưng là: Chợ Dưa FSoft – chodua.com và FLI Blog: fli.fpt20.com, là kênh internet có thể truy cập. Còn các forum, mạng nội bộ khác chỉ dành cho nhân viên FPT. Đặc điểm ẩn danh cho phép nhiều người được nói thẳng nói thật ý kiến và cả các bức xúc của mình trong công việc hay comment thoải mái về các chính sách công ty mà ko sợ lộ mặt.
Những cái này có thể nhiều công ty đã áp dụng như “học thuật” hóa thì được gọi là quản trị 2.0.
Những thông tin khác bạn có thể đọc tại fli.fpt20.com hoặc chodua.com. Mời bạn vào trao đổi! Tks!

vanbich, FPT HR representative

Ông Trương Gia Bình nói về Visky 2.0

2. The position of the 2.0 characteristics

2a. Web 2.0 is about Communication. Is Enterprise 2.0 about Communication?

Basing on the comment from vanbich, the idea of FPT 2.0 is to provide channels and facilities for their employees to communicate with one another and with leaders.

At first, it seems sensible given light that a Web 2.0 product provides platforms for its users to communicate and share information with one another. And users do this with purposes.

Some examples of Web 2.0 products:

Product Effective communication channels Purpose of product creators Main purpose of users
WordPress
  • Entries
  • Comments
Provide a collaborative blogging platform Share & aggregate knowledge
Facebook
  • Walls
  • Media
  • Comments on most items
  • B2C: Public Profiles
  • …a few others…
  • Provide means for people to explore one another’s activities
  • Provide technical platform
Explore connections’ activities
MySpace
  • Verbal comments
  • Non-verbal expression through media and page styling
Provide means for people, especially artists, to show off their interests Express their ego
Twitter
  • Short messages
  • Provide viral platform
  • Provide technical platform
  • Viralize their contents
  • Quickly update their activities

How are “2.0 communication” and FPT’s explanation linked together?

It’s useful to map the idea:

Comparing Web 2.0 with Enterprise 2.0

Figure 1 – trying mapping web 2.0 product and enterprise 2.0: incorrect

While we see that the total scale of a Web 2.0 product is allow Communication, the total scale of an Enterprise is much larger than that. We want to revise the ‘conventional’ enterprise:

Classic Enterprise

Figure 2 – simplified model of a conventional enterprise

That is the full scale of an Enterprise. Communication plays an important role, but does not take up entirely its operations.

So how do we map it more precisely?

2b. Here is what I visual it: mapping between two 2.0 entities

Firstly, as we know that communication is the main activity of a Web 2.0 product, it is important to find out what is the main activity of an Enterprise. As from figure 2, the main activity of an enterprise is Production and/or Providing Services.

Secondly, it is important to characterize the style of communication in Web 2.0 products so that we can do the same on the style of production of an enterprise.

What best describes “multi-directional” and “decentralized”? It is autonomous. People in the 2.0 sphere communicate autonomously and are responsible for their behaviors.

Combining these two findings, here is what I propose the mapping between a Web 2.0 product and an Enterprise:

Comparing Web 2.0 with Enterprise 2.0

Figure 3 – mapping web 2.0 product and enterprise 2.0

At full scale, the applied 2.0 characteristics does not only involve open and partially anonymous communication, but reach the level of autonomy in production.

3. Some considerations

  1. It’s easier for startups than for an established company.
    Think about Google. It had been famous for its anti-corporate culture at the first days. As the company becomes mature, corporate issues start to emerge.
  2. Does the structure of the company make it reasonable to build autonomous teams/divisions?
  3. Does the culture of the company and the culture of the society make it reasonable to build autonomous teams/divisions?
  4. How ready are the employees, in terms of capability and mentality, to be autonomous?
  5. Autonomous, together with self-directed communication is not new. It traces back to 1970s and Motorola, Xerox, AT&T and so on. However, it might be new to Vietnam.

4. Some recommendations for FPT toward 2.0

  1. Select mature teams to build autonomy
  2. Delayer these teams
  3. Allow (sometimes dramatic) changes in structure, culture and mentality
  4. Allow (sometimes dramatic) changes in personnel management and resource allocation
  5. Treat this as on-going experiment

Benefits:

  1. Bring the “2.0 spirit” to the company as leaders desire
  2. Increase innovation
  3. Reduce cost, especially management overhead
  4. Reduce absenteeism
  5. Identify unofficial leaders of the teams in addition to the existing leadership training program

5. Summary

Changes in production characteristics, rather than sheerly in communication, reflect the full-scale shift within an Enterprise. Analyzing Web 2.0 characteristics leads us to autonomy. Whether and how FPT will implement it is interesting to observe. The implications of recommendations in this article go beyond social media, product management and technology companies to leadership generally.

6. Reflection

It has been challenging and exciting to write this. The excitement was how I can link seemingly scattered parts of my knowledge to form a cohesion piece of consultation – something I love doing. The great challenge lies in the idea of evaluating a big, established, known and loved company. Nevertheless, if I want to learn, first thing first, I must dare the keyboard discussion.

Spreading the word for BarCamp Hanoi 2009

By , April 10, 2009 12:59 pm

BarCamp Hanoi

Barcamp Hanoi 2009 will be held on April 19, from 8.30 AM to 5.00 PM at RMIT International University, Hanoi campus – 2/2C Van Phuc Compound, Kim Ma street, Hanoi.

Topics may include, but are not limited to: online services, social media, startups, UI design, entrepreneurship, VC, Web 2.0 technologies, online marketing, online advertising, online payment, e-commerce, open source software, hardware hacking, robotics, mobile computing, bioinformatics, programming languages, even the future of technology or global issues.

REGISTER FREE HERE: http://www.barcamphanoi.org/?page_id=10&lang=en
WANT TO SPONSOR US: http://www.barcamphanoi.org/?page_id=12&lang=en

As a part of the community building process, we’re looking for people to help spread the word about the event.

SO WHAT CAN YOU DO?

* Add a badge to your websites or blogs (http://www.barcamphanoi.org/?page_id=130&lang=en)
* Write blog entries about Barcamp and Barcamp Hanoi 2009 (What is Barcamp?, Information about Barcamp Hanoi 2009, Sponsor for Barcamp Hanoi,…)
* Spread information about Barcamp Hanoi 2009 to people who may concern, maybe via IM, Discussion groups, Email, Twitter, Facebook,…

That would help us alot and make Barcamp Hanoi even more successful.

Thank you so much, we greatly appreciate what you do for Barcamp Hanoi.

***

Hội thảo công nghệ mở Barcamp Hanoi 2009 sẽ được tổ chức vào ngày 19/4, từ 8.30 sáng đến 5.00 chiều tại trường Đại học Quốc tế RMIT, cơ sở Hà Nội – 2/2C khu Ngoại giao đoàn Vạn Phúc, đường Kim Mã, Hà Nội.

Chủ đề không giới hạn, có thể bao gồm: Dịch vụ trực tuyến, social media, startups, thiết kế giao diện người dùng, entrepreneurship, Đầu tư mạo hiểm, Các công nghệ Web 2.0, marketing trực tuyến, quảng cáo trực tuyến, thanh toán trực tuyến, thương mại điện tử, phần mềm mã nguồn mở, hardware hacking, robotics, mobile computing, bioinformatics, các ngôn ngữ lập trình, công nghệ tương lai, các vấn đề toàn cầu…

ĐĂNG KÝ THAM DỰ TỰ DO TẠI ĐÂY: http://www.barcamphanoi.org/?page_id=10
TÀI TRỢ CHO SỰ KIỆN NÀY: http://www.barcamphanoi.org/?page_id=12

Là một phần của quá trình xây dựng cộng đồng, rất mong các bạn giúp đỡ quảng bá sự kiện này đến những người quan tâm.

BẠN CÓ THỂ LÀM GÌ ĐỂ GIÚP ĐỠ BARCAMP HANOI?

* Thêm phù hiệu Barcamp Hanoi vào website hay blog của bạn. (http://www.barcamphanoi.org/?page_id=130)
* Viết blog về Barcamp Hanoi (Barcamp là gì?, Thông tin về Barcamp Hanoi 2009, Tài trợ cho Barcamp Hanoi,…)
* Gửi địa chỉ trang web này và giới thiệu với những người có thể quan tâm, có thể qua Yahoo! Messenger, Email, Forum, Twitter, Facebook,…

Việc này sẽ giúp những người tổ chức rất nhiều và làm cho sự kiện thành công hơn nữa.

Cảm ơn các bạn, chúng tôi thật sự rất cảm kích những gì bạn làm cho Barcamp Hanoi.

What You Need To Know About Raising Venture Capital (By Mark Davis, DFJ Gotham)

By , February 2, 2009 3:40 pm

Panorama Theme by Themocracy